Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - Sức mạnh của ý chí thống nhất đất nước và khát vọng hòa bình!

CĂN CỨ SỞ CHỈ HUY ĐẶC KHU QUÂN SỰ RỪNG SÁC VÀ ĐOÀN 10 ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC

 

CĂN CỨ SỞ CHỈ HUY ĐẶC KHU QUÂN SỰ RỪNG SÁC

VÀ ĐOÀN 10 ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC

(Xã Phước An,  tỉnh Đồng Nai)

 

1. Tên gọi: 

Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

- Từ năm 1966 đến năm 1967 là Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác.

- Từ năm 1967 đến 1973 là Căn cứ Sở Chỉ huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

2. Địa điểm phân bố và đường đi đến:

2.1 Địa điểm phân bố:

Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác trước kia thuộc xã Phước An, quận Nhơn Trạch, tỉnh Biên Hòa; nay thuộc khu vực Rừng Sác, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

2.2 Đường đi đến di tích:

Từ trung tâm thành phố Biên Hòa đến ngã ba Vũng Tàu, theo quốc lộ 51 đến ngã 3 Tỉnh lộ 25B vào huyện Nhơn Trạch rẽ phải đến Ngã 4 Hiệp Phước rẽ trái hoặc từ trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, theo hướng Xa lộ Hà Nội đến Ngã ba Cát Lái, qua phà Cát Lái theo đường Tỉnh lộ 25B đến Ngã tư Hiệp Phước rẽ phải theo Hương lộ 19 đi đến UBND xã Phước An, rẽ trái về cảng Công ty Vật liệu Xây dựng Biên Hòa; lên thuyền đi khoảng 4 km là đến di tích.

Du khách có thể tham quan di tích bằng phương tiện giao thông đường bộ và đường thủy đều thuận lợi.

 

3. Phân loại di tích:

Căn cứ Luật Di sản Văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa; kết quả nghiên cứu hồ sơ bước đầu và hồ sơ khoa học di tích Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác thuộc loại hình di tích lịch sử (lịch sử cách mạng).

4. Sự kiện, nhân vật lịch sử và đặc điểm của di tích:

4.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Đặc khu Quân sự Rừng Sác:

Đầu năm 1966, đồng chí Phan Hàm - Phái viên của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam triển khai chỉ đạo của Quân ủy Trung ương về việc thành lập một khu quân sự ở phía Đông Nam Sài Gòn để khống chế con đường huyết mạch của địch ở Sông Lòng Tàu với  Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền.

Tại Chiến khu Đ, đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh B2 và đồng chí Trần Độ - Phó Chính ủy Miền đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Lương Văn Nho (Hai Nhã) - tham mưu trưởng Sư đoàn 5 của Miền thực hiện nhiệm vụ xây dựng căn cứ thành lập Đặc khu Quân sự Rừng Sác.

Ngày 15 tháng 4 năm 1966, Đặc khu Quân sự Rừng Sác chính thức được thành lập với mật danh là T10. Căn cứ Sở Chỉ huy được đặt ở Rạch Tràm sau chuyển qua Tắc Cái Ngang, sông Ba Gioi (nay là khu vực Rừng Giống, ấp Bà Bông, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai). Đây là một khu quân sự đặc biệt với tầm hoạt động rộng, phía Đông giáp đường 15, phía Tây giáp sông Soài Rạp, phía Bắc giáp đường 19, phía Nam tiếp giáp biển Đông. Khu vực rộng lớn này bao gồm 10 xã thuộc nhiều tỉnh khác nhau như Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Gia Định. Nhiệm vụ chủ yếu của Đặc khu là xây dựng khu căn cứ thành bàn đạp vững chắc để khống chế sông Lòng Tàu, đánh chìm tàu địch trên sông rạch nhỏ, tại cảng và tiến đến đánh kho tàng lớn của địch; kết hợp chặt chẽ với các tổ chức công tác Đảng, dân chính, tranh thủ nhân dân, xây dựng cơ sở cách mạng, hỗ trợ phong trào cách mạng, đẩy mạnh chiến tranh du kích; bảo vệ hành lang vận chuyển hàng chiến lược của ta theo đường mòn Hồ Chí Minh trên biển vào Nam.

Về mặt tổ chức, ngày 22 tháng 8 năm 1966, Quân ủy Miền chỉ định thành phần Ban Cán sự trong khi chờ đủ cán bộ để thành lập Đảng ủy và quy định nhiệm vụ, quyền hạn Ban Cán sự tương đương như Đảng ủy một Trung đoàn độc lập, hoạt động với tính chất Đảng ủy Đặc khu. Phiên hiệu của tổ chức Đặc khu Quân sự Rừng Sác là T10, sau đổi thành Đoàn 10.

Ngày 22 tháng 9 năm 1966, Quân ủy Miền có Công điện số 370/TGK xác định rõ tính chất của đặc khu Rừng Sác là một khu quân sự chứ không phải quân khu, có một cấp ủy phụ trách thuộc Quân ủy Miền, phụ trách cả công tác quân chính và phong trào cách mạng địa phương.

Ngày 01 tháng 10 năm 1966, tổ chức Đặc khu Quân sự Rừng Sác chính thức hình thành và có hiệu lực. Quân số đầu tiên 614 người, gồm 3 cơ quan, 6 đơn vị cấp đại đội, hai đội công binh nước đánh thủy lội dây, một đội cối 82, một trung đội ĐKZ 75 ly, một đơn vị pháo cao xạ 12 ly 8, một đơn vị bộ binh, một đơn vị trinh sát, một đơn vị vận tải hàng chiến lược. Theo quyết định của Bộ Chỉ huy Miền, cơ quan chỉ huy đầu tiên của Đặc khu Rừng Sác gồm các đồng chí:

1. Lương Văn Nho - Đặc khu Trưởng kiêm Chính ủy.

2. Nguyễn Văn Mây - Chỉ huy phó.

3. Đặng Văn Điệt (Sáu Tâm) - Phó Chính ủy.

4. Nguyễn Việt Hoa (Mười Thà) - Chỉ huy phó.

5. Trần Văn Phú (Trần Mân) - Tham mưu Trưởng.

6. Nguyễn Văn Quảng (Năm Phòng) - Chủ nhiệm chính trị.

7. Lê Công Trinh (Ba Trinh) - Chủ nhiệm Hậu cần.

Các đơn vị trực thuộc Đặc khu gồm 4 đội chiến đấu, 2 đội vận chuyển hàng chiến lược và 3 cơ quan: tham mưu - chính trị, hậu cần, trạm xá cùng xưởng quân giới. Địa bàn hoạt động trải rộng trên 10 xã chia làm hai khu: khu A phía Đông sông Lòng Tàu, khu B phía Tây sông Lòng Tàu.

Khu A có căn cứ của Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Sở Chỉ huy đầu tiên đóng ở Rạch Tràm sau chuyển qua Tắc Cái Ngang, sông Ba Gioi (hiện nay thuộc khu vực Rừng Giống, ấp Bà Bông, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch). Các đội 1, 2, 3 chịu trách nhiệm bảo vệ khu này.

Khu B do 2 đội đảm nhiệm chiến đấu. Đội trưởng là đồng chí Cao Thanh Tao, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chỉ huy Đặc khu. Khu này nằm trên địa bàn huyện Duyên Hải.

Cuối năm 1966, huyện Cần Giờ sát nhập vào Đặc khu; do đó Đặc khu phụ trách luôn công tác chính quyền địa phương. Ngay từ đầu, Đặc khu đã chú trọng xây dựng bộ đội địa phương, quân dân du kích ở huyện, xã, củng cố các chi bộ xã. Sau một thời gian, mỗi huyện đều có một trung đội bộ đội địa phương, mỗi xã đều có một tiểu đội du kích. Đảng bộ Đặc khu Quân sự Rừng Sác có 372 Đảng viên.

Trong thời gian đầu xây dựng lực lượng, các đơn vị cơ quan gặp vô vàn khó khăn do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiếu thốn mọi thứ, nhất là nước ngọt để sinh hoạt; dân chúng bị địch theo dõi, kiểm soát chặt chẽ, khó móc nối quan hệ công tác và giải quyết hậu cần, phong trào cách mạng địa phương còn yếu… Tuy nhiên, nhờ công tác chính trị được chú trọng từ đầu, cộng với tinh thần chịu đựng gian khổ của cán bộ chiến sĩ; cùng với sự giúp đỡ che chở của nhân dân trong điều kiện hết sức khó khăn và nguy hiểm, Đặc khu đã vượt qua được thử thách, từng bước trưởng thành dày dạn trong xây dựng và chiến đấu.

Như vậy, Đặc khu Rừng Sác được hình thành khi chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt trên chiến trường miền Nam. Trong quá trình hình thành lực lượng của Đặc khu đã tiến một bước dài về tổ chức và chỉ huy lực lượng. Một lực lượng tương đương với một Trung đoàn, hoàn chỉnh về tổ chức nhưng không đủ về quân số, đã đứng chân sát đầu não Sài Gòn và đương đầu với những thử thách vô cùng khắc nghiệt của địa hình. Đặc khu Rừng Sác không chỉ đứng chân, tổ chức thiết lập thế trận, gây dựng lực lượng mà còn giáng những đòn hiểm vào quân địch.

Đến tháng 6 năm 1967, Đặc khu quân sự Rừng Sác được bổ sung lực lượng. Một đơn vị Đặc công nước gồm 59 cán bộ, chiến sĩ do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Thắng chỉ huy đã đến chiến khu Rừng Sác hình thành Đại đội 5.

4.2. Sự thành lập Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác:

Căn cứ tình hình thực tế của Đặc khu Rừng Sác, tháng 10 năm 1967 để chuẩn bị cho kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy, Bộ Chỉ huy Miền quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, tổ chức lại chiến trường trọng điểm gồm 5 phân khu ngoại thành hướng vào Sài Gòn mang Phiên hiệu từ 1 đến 5 và phân khu 6 phụ trách nội đô. Đặc khu Quân sự Rừng Sác nằm trong Phân khu 4 nhưng vẫn trực thuộc Miền, có tính chất độc lập với nhiệm vụ đặc biệt của mình là đánh vào tuyến đường thủy chặn tàu địch và các kho tàng, bến cảng bằng lối đánh đặc công.

Theo yêu cầu của chiến trường, Đặc khu Quân sự Rừng Sác có sự thay đổi, Đảng bộ huyện Duyên Hải và Chính quyền cách mạng được thành lập, Đặc khu không còn làm nhiệm vụ quản lý 10 xã. 

Về nhân sự lúc này, đồng chí Lương Văn Nho (Hai Nhã) đảm nhận chức Tư lệnh Phân khu 4. Các đồng chí Mười Thà, Sáu Tâm là Chỉ huy phó. Các đồng chí Năm Mân, Chín Mây, Năm Phòng được điều động về trên. Lực lượng quân còn lại của Đặc khu Quân sự Rừng Sác thành lập Đoàn 10. Ban Chỉ huy gồm có các đồng chí:

1. Đồng chí Nguyễn Việt Hoa - Đoàn trưởng.

2. Đồng chí Đặng Văn Việt - Chính ủy.

3. Đồng chí Nguyễn Hoàng Sơn - Đoàn phó kiêm Chính ủy.

4. Đồng chí Lê Bá Ước - Phó Chính ủy.

Sở Chỉ huy tiếp tục đóng ở khu vực Sở Chỉ huy của Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Sang xuân Mậu Thân 1968, đồng chí Nguyễn Việt Hoa và Đặng Văn Việt được điều về đơn vị mới. Ban Chỉ huy Đoàn 10 lúc này gồm:

1. Đồng chí Nguyễn Hoàng Sơn - Đoàn trưởng.

2. Đồng chí Lê Bá Ước - Chính ủy.

3. Đồng chí Trần Thành Lập - Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị.

4. Đồng chí Cao Thanh Tao - Tham mưu trưởng.

Đến cuối năm 1969, đồng chí Nguyễn Hoàng Sơn bị bệnh phải chuyển về trên, đồng chí Lê Bá Ước được cử làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

4.3. Những thành tích tiêu biểu của Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác:

Trong thời gian đóng chân ở Rừng Sác Nhơn Trạch, Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và sau này là Sở Chỉ huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đã chỉ đạo và tổ chức nhiều trận đánh lớn, nhỏ góp phần quan trọng vào thắng lợi vang dội của quân và dân miền Đông Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đó có một số trận đánh tiêu biểu như:

4.3.1. Những trận đánh tiêu biểu của Đặc khu Quân sự Rừng Sác:

* Những trận đánh tàu địch trên sông Lòng Tàu tháng 7 năm 1966:

Tháng 7 năm 1966, địch hành quân giải tỏa khu vực Nhà Bè với ý địch lập vành đai trắng bảo vệ kho xăng và các quân cảng, kho tàng dọc sông Lòng Tàu. Vũ khí thủy lôi đánh tàu địch trên sông của ta phải đương đầu với tàu rà, tàu quét của địch ngày càng nhiều. Máy bay lên thẳng của địch hoành hành trên bầu trời Rừng Sác cả ngày lẫn đêm. Với tinh thần quyết tâm giáng trả địch, Xã đội trưởng Phú Hữu - Nguyễn Quyết Chiến và Xã đội phó Tư Thắng với sự yểm trợ của 3 chiến sĩ Đại đội 1 đã hạ được 01 chiến trực thăng vũ trang đầu tiên của địch tại Rừng Sác.

Trong thời gian này, qua trinh sát nắm chắc hoạt động của địch trên sông Lòng Tàu, Ban Chỉ huy Đặc khu quyết định mở đợt cao điểm tấn công địch trong nửa đầu tháng 7 năm 1966 nhằm tiêu hao bộ phận sinh lực địch, đồng thời nghiên cứu khả năng và quy luật hoạt động của tàu chiến địch, trên cơ sở đó bổ sung kế hoạch và biện pháp tác chiến nhằm đánh tiêu diệt chúng.

Thực hiện đợt đánh này, đơn vị sử dụng lực lượng: một đội công binh, một đội hỏa lực và một đội trinh sát. Vũ khí trang bị: ngoài súng cá nhân còn có ĐKZ, B50, thủy lôi tự chế và 04 quả thủy lôi KB được trên cấp. Tuy vũ khí ít ỏi nhưng tinh thần chiến đấu lập công của cán bộ chiến sĩ rất cao. Công tác chính trị tư tưởng được tiến hành kịp thời, động viên chiến sĩ nhằm đem lại kết quả cao cho trận đánh. Kế hoạch chiến đấu được triển khai một cách cụ thể: Đội 1 đóng ở khu A chọn đoạn sông từ Ngã ba sông Đồng Tranh đến Độ Hòa; đội 2 đóng ở khu B, lấy đoạn sông từ sông Lôi Giang đến vàm sông Dần Xây làm khu vực chủ yếu.

Ngày 2 tháng 7 năm 1966, Đội 2 mở đầu đợt cao điểm bằng 2 trận địa bố trí sẵn trên vàm sông Dần Xây và Lôi Giang, bắn cháy 01 tàu tải trọng 10.000 tấn và bắn trọng thương 02 tàu tuần tiểu của địch.

Chiến thắng giòn giã ngay từ trận đầu làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị và là niềm khích lệ đối với Đội 1. Ngay trong ngày 3 tháng 7, Đội 1 ra quân bắn trọng thương 02 tàu tuần trên đoạn sông Lòng Tàu ngang qua Độ Hòa. Phát huy kết quả đạt được 7 ngày sau, Đội 1 tiếp tục bắn cháy một tàu quét mìn và 01 tàu hộ tống. Đội 2 tiếp tục lập công, bắn cháy 01 tàu quét mìn và diệt 04 tên trong một trận chống càn.

Bị đòn đau, hai hôm sau, một trung đội lính thuộc “Đặc khu Rừng Sác” của Ngụy có tàu quét mìn yểm trợ, càn quét vào khu vực vàm sông Dần Xây. Đội 2 kịp thời bố trí đội hình chiến đấu, đánh trả quyết liệt, diệt 07 tên. Địch phải dùng tàu và trực thăng yểm trợ để lấy xác đồng bọn.

Đợt cao điểm hoạt động kết thúc khả quan. Ta diệt được sinh lực địch và làm thiệt hại phương tiện chiến tranh của địch. Điều đáng kể là ta đã có nhiều hiểu biết hơn về việc tác chiến trên vùng sông nước và rút ra được những kinh nghiệm chiến đấu quý giá. Đây là những trận đánh mở đầu truyền thống đánh tàu địch trên tuyến sông Lòng Tàu của Đặc khu Quân sự Rừng Sác.

* Trận chiến đấu bảo vệ căn cứ của Đội 4:

Thấy hoạt động của ta tăng lên, ngày 23 tháng 7 năm 1966, quân Mỹ kết hợp với quân Ngụy tổ chức trận càn quy mô cấp trung đoàn, có máy bay, pháo binh, tàu chiến yểm trợ vào xã Bình Khánh, Rừng Sác. Địch dàn đội hình bao vây căn cứ Đội 4 từ nhiều hướng. Về phía ta, Đội 4 đã chuẩn bị sẵn sàng trận địa và xác định quyết tâm chiến đấu cao, quyết tiêu diệt, bẻ gãy trận càn của địch.

Sáng ngày 23 tháng 7, một cánh quân Mỹ bắt đầu tấn công vào khu vực căn cứ của Đội 4. Mặc dù tình thế hết sức bất lợi cho đơn vị, nhưng cán bộ chiến sĩ Đội 4 vẫn bình tĩnh bám chắc công sự, đánh trả quyết liệt. Quân Mỹ với ưu thế động cơ và trang bị mạnh tổ chức nhiều đợt oanh kích vào trận địa của ta nhưng đều bị đánh lui, nhiều tên bị bắn gục trên bờ công sự. Mặc dù có một số chiến sĩ hy sinh, bị thương nhưng Đội 4 vẫn ngoan cường chiến đấu giữ vững trận địa. Trận đánh diễn ra từ sáng tới chiều. Địch không đạt được mục đích, phải rút lui quân với thiệt hại nặng nề: 135 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu (trong đó khoảng 50 tên bị tiêu diệt tại chỗ).

Đây là trận chống càn diệt quân Mỹ đầu tiên của một Đại đội cấp Đặc khu. Từ đây khí thế đánh Mỹ của cán bộ chiến sĩ Đặc khu Rừng Sác càng sôi nổi và quyết tâm hơn.

* Trận đánh tàu Victory bằng thủy lôi:

Để thực hiện kế hoạch đánh thủy lôi, Ban Chỉ huy trận đánh được thành lập gồm có các đồng chí: Lương Văn Nho - Chỉ huy trưởng, Nguyễn Hoàng Sơn - Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng, Cao Thanh Tao - Chỉ huy phó, Hồ Xuân Cảnh - Trinh sát và Kỹ thuật.

Thủy lôi được sử dụng trong trận đánh đầu tiên này là loại thủy lôi sừng chạm K6. Đây là loại vũ khí “tối mật” do nước bạn viện trợ; được các đồng chí trong Đoàn Vận tải 759 chuyển từ miến Bắc vào miền Tây Nam Bộ rồi vòng lên Rừng Sác. Những trái thủy lôi hiện đại phải kèm theo những phương tiện hiện đại đồng bộ nhưng đơn vị không có điều kiện để thỏa mãn yêu cầu đó. Công việc đưa trái thủy lôi nặng 1.075 kg vào mục tiêu phải trải qua nhiều khó khăn như: di chuyển quả thủy lôi, dò nguồn lạch trên sông Lòng Tàu rộng gần 1.000m, chống tàu quét mìn và đánh trúng đối tượng trọng yếu trong cả một đoàn tàu đi qua.

Khó khăn tưởng chừng đơn vị không vượt qua nổi. Đồng chí Hồ Xuân Cảnh (Ba Cảnh) cùng một tổ trinh sát đặc công ra đào hầm bí mật trên bờ sông Lòng Tàu. Cuộc tập trận trên sông kéo dài ròng rã một tháng trời. Cũng trong thời gian này, Ban Chỉ huy Đặc khu phát động một phong trào thi đua sôi nổi luyện tập thao tác kỹ thuật, lập trận địa thủy lội để bước vào trận đánh lớn. Những quả thủy lôi K6 được các chiến sĩ đưa thử vào vị trí chiến đấu nhiều lần trong điều kiện nước chảy xiết của sông Lòng Tàu. Tuy rất khó khăn nhưng bằng trí thông minh và sự sáng tạo, bằng ý chí kiên trì nhẫn nại, các đợt diễn tập ngày càng đạt chất lượng cao. Các thao tác của chiến sĩ diễn ra rất thành thạo, có thể hoàn thành tốt trận đánh.

Trên sông Lòng Tàu, đoạn gần Ngã ba Vàm Cống, đêm đêm các chiến sĩ trinh sát lao ra giữa dòng nước vừa dùng dây, vừa lặn để thăm dò và đo lạch tàu dưới nước. Rồi các chiến sĩ đột nhập vào quân cảng Nhà Bè, chọn đúng chiếc tàu cỡ 10.000 tấn, đặt thước đo vào mạn tàu.

Trận địa thủy lôi được chọn là một khúc quanh ở Vàm Ngã Bảy gần Ngã ba Vàm Cống và việc vận chuyển những quả thủy lôi ra ghe đưa xuống lòng sông phải dùng cần cẩu tự chế là những cây đước.

Đêm 21 tháng 8 năm 1966, nhận được tin từ tình báo kèm theo chỉ thị báo về Cơ quan Chỉ huy Đặc khu: có ba chiếc tàu quân sự của Mỹ đang chuẩn bị vào bến Ô Cấp (Vũng Tàu). Dự báo sáng 23 tháng 8 sẽ đi vào sông Lòng Tàu. Mục tiêu tấn công là tàu Baton Rugiơ Victory đi sau cùng. 

Nắm chắc tình hình địch, Ban Chỉ huy Đặc khu Rừng Sác nhanh chóng triển khai lực lượng chiến đấu. 3 giờ sáng 23 tháng 8, quả thủy lôi K5 được đưa vào vị trí. Mọi công tác chuẩn bị đã được hoàn tất, 02 khẩu ĐKZ cũng đã tới trận địa chính. Tất cả công tác chuẩn bị cho trận đánh đã sẵn sàng. Đồng chí Lương Văn Nho - Chỉ huy trưởng trận đánh đã có mặt ở trận địa chính Ngã bảy của Đội 3; đồng chí Tám Sơn có mặt tại trận địa của tổ thả thủy lôi do đồng chí Cảnh, Tấn, Tư, Hiếu phụ trách.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 23 tháng 8, hai chiếc trực thăng từ Nhà Bè bay ra sà thấp xuống mặt sông, chúng nã đạn vào những đám lục bình. Một lát sau, bốn tàu quét mìn xuất hiện, rồi đoàn tàu vận tải trong đó có tàu Victory xuất hiện đi vào trận địa của ta. Quả thủy lôi phát hỏa. Một tiếng nổ vang rền, con tàu trúng thủy lôi và chìm xuống lòng sông. Cùng lúc đó, các tổ hỏa lực của ta hai bên bờ khai hỏa các loại súng vào đội hình địch, chúng hoản loạn bắn tứ tung, một số rút chạy, một số co cụm lại quanh khu vực chiếc tàu bị đánh chìm chờ viện binh. Cùng lúc đó, trận địa hỏa lực của ta tại Tây Nam Dần Xây do đồng chí Tư Xê phụ trách cũng bắn trọng thương tàu 8.000 tấn.

Trận đánh đầu tiên bằng thủy lôi của Đặc khu Quân sự Rừng Sác giành thắng lợi lớn. Ta diệt được tàu Victory trên tàu có: 100 xe tăng, 03 máy bay phản lực, hàng trăm khẩu pháo, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm. Giao thông của địch trên sông Lòng Tàu bị gián đoạn. Địch phải mất cả tuần lễ để trục vớt xác con tàu và khai thông khúc sông này. Sau trận đánh này, Đặc khu Quân sự Rừng Sác được Bộ Chỉ huy Miền tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất.

* Trận đánh vào quảng trường Kenedy nhân ngày quốc khánh của địch:

Để chuẩn bị cho quốc khánh Việt Nam Cộng hòa ngày 1 tháng 11 năm 1966, địch đã chuẩn bị chu đáo và cẩn mật về an ninh: “Treo thưởng cho những ai bắt hoặc giết được Việt Cộng đặc biệt là Việt Cộng Đặc khu Rừng Sác sẽ được thưởng từ 50.000 đến 100.000 đồng”. Tất cả các ngả đường vào khán đài đều có dây kẽm gai chằng chịt. Xung quanh ven đô, địch bố phòng chặt chẽ với nhiều lực lượng tham gia, trong đó có tiểu đoàn 30 biệt động quân rải rác án ngữ trục lộ 33 và tỏa ra lùng sục trên tuyến đường dẫn vào Sài Gòn, hướng Nhà Bè cũng được địch chú trọng tăng cường lực lượng dày đặc.

Về phía ta, trận đánh quan trọng này được giao cho 2 khẩu đội pháo của Tiểu đoàn 6 Bình Tân và Tiểu đoàn 8 pháo binh Quân khu bố trí ở 2 trận địa Thủ Đức và Nhà Bè với cự ly bắn khoảng trên dưới 6.000 m. Một khẩu pháo cối 60 dự bị của Biệt động thành được bố trí ở kênh Nhiêu Lộc. Ngoài ra còn một số trận địa mìn gây tiếng nổ nhằm đánh lạc hướng của địch khi ta tấn công. Riêng trận địa pháo ở Thủ Đức có sự phối hợp của Biệt động F100 do đồng chí Nguyễn Văn Tăng chỉ huy. Công tác trinh sát, điều nghiên mục tiêu, xác định cự ly pháo do Biệt động đảm nhiệm.

Để thực hiện trận pháo kích đầy khó khăn này, theo sự chỉ đạo trực tiếp của Quân khu Sài Gòn - Gia Định và ý đồ của Bộ Chỉ huy Miền, 2 khẩu đội pháo của Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 8 phải tổ chức hành quân đường dài và cấu trúc trận địa trong điều kiện rất gian khổ, thiếu thốn, bị địch phục kích trên đường đi và đánh bom vào điểm tập kết, 13 chiến sĩ đã hy sinh. Do bị tổn thất, Tiểu đoàn 8 pháo binh Quân khu không tham gia trận đánh được, cấp trên phải cấp tốc điều khẩu đội pháo của Đặc khu Rừng Sác thay thế. Đồng chí Hai Nhã đã giao nhiệm vụ cho khẩu đội pháo do đồng chí Hai Nga chỉ huy khẩn trương chuẩn bị mọi mặt về Thủ Đức để kịp thời tham gia trận đánh. Mọi việc chuẩn bị được hoàn tất trong đêm 31 tháng 10.

Sáng ngày 1 tháng 11 năm 1966, trên khán đài danh dự tổ chức lễ quốc khánh của Ngụy tập trung nhiều nhân vật quan trọng của địch, từ Đại sứ Cabolodge, tướng Mỹ Westmoreland đến tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, thủ tướng Trần Văn Hương, đại sứ các nước đồng minh, các thượng khách của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa...

Tín hiệu quy định nổ súng của các trận địa thông qua tường thuật lễ của địch qua radio. Đúng 7 giờ 5 phút, khi phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cất giọng đọc diễn văn, trận địa pháo Nhà Bè do đồng chí Trần Minh Tâm chỉ huy lập tức nổ súng, 12 quả đạn cối nổ vang, nối tiếp nhau lao vào mục tiêu. Đài địch lặng im, buổi lễ gián đoạn, địch điên cuồng cho trực thăng bắn về phía Nhà Bè, Thủ Đức nhưng trận địa vẫn không bị lộ.

Khoảng một giờ sau, địch vãn hồi được trật tự và tiến hành duyệt binh. Khi tướng Vĩnh Lộc vừa cất tiếng hô điều hành thì khẩu ĐKZ 75 của Đặc khu Rừng Sác do đồng chí Hai Nga trực tiếp chỉ huy bắn cấp tập 12 quả vào lễ đài. Cùng lúc đó, 6 trận địa bộc phá của du kích nghi binh lần lượt nổ vang. Cuộc diễu binh trở nên vô cùng hỗn loạn, bọn đầu sỏ và thượng khách kẻ chạy mất vía hoặc chui xuống dưới gầm khán đài trốn tránh. Viên đại tá Mỹ Edoixo Risot trúng đạn nằm gục tại chỗ. Đội pháo của Đặc khu rút về Rừng Sác an toàn.

* Trận pháo kích vào kho xăng Nhà Bè:

Phát huy kết quả đạt được, ngày 13 và 15 tháng 8 năm 1967, Đặc khu Quân sự Rừng Sác tiếp tục mở những trận địa pháo vào kho xăng Shell Nhà Bè của địch. Kho xăng bị trúng đạn, một triệu lít xăng bị thiêu hủy. Căn cứ hải quân Mỹ cũng bị đánh hỏng nhiều nhà cửa, 27 tên địch bị thương vong, bắn cháy 01 chiếc F100.

* Trận đánh vào cảng Nhà Bè:

Thực hiện sự chỉ đạo của Đặc khu, đêm 25 tháng 12 năm 1967, tổ Đặc công gồm 3 người Đinh Hữu Loan, Trịnh Xuân Bảng, Nguyễn Văn Hương do đồng chí Loan chỉ huy lên đường tiến về mục tiêu cảng Nhà Bè. Vượt qua hàng chục cây số sình lầy sông nước, rải rác các chốt phòng thủ của địch, các chiến sỹ đã bí mật đưa quả thủy lôi 100 kg vào trận địa.

Do đã có sự điều nghiên kỹ lưỡng trước đó, đồng chí Bảng khéo léo đưa đồng đội vượt qua hàng rào phòng thủ kiên cố của địch. Mục tiêu tấn công của tổ đặc công là chiếc tàu lớn chở hàng chiến lược của địch nằm sâu trong cảng. Với kỹ thuật đặc công điêu luyện, đồng chí Bảng cùng 2 chiến sỹ nhanh chóng tiếp cận mục tiêu, áp sát quả thủy lôi vào mạn tàu. Sau khi kiểm tra chắc chắn, đồng chí ra hiệu cho các chiến sỹ cùng rút nhanh ra khỏi trận địa tập trung về điểm hẹn quy định. Đúng 11 giờ 45 phút, một tiếng nổ vang dội làm chiếc tàu bốc cháy.

Trận đánh làm chấn động giới quân sự Mỹ - Ngụy tại Sài gòn. Đội 5 trở thành đơn vị đầu tiên của Đặc khu Quân sự Rừng Sác mở đầu truyền thống đột nhập đánh phá kho tàng bến cảng địch. Đồng chí Bảng trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang đầu tiên của đơn vị.

* Một số trận đánh khác:

Tháng 10 năm 1967, đồng chí Hai Nhã phân công đồng chí Tám Sơn đưa một tổ Đặc công gồm ba đồng chí, bí mật vượt qua ấp chiến lược xã Đại Phước, xã Long Tân, điều nghiên đánh đoàn xà lan khoảng 20 chiếc vận chuyển đầy bom đạn về Tổng kho Long Bình. Trong trận đánh này, các đồng chí đã sáng kiến ra cách chống tàu rà quét bom mìn của địch bằng cách vào nhà người dân xin những cây cây, khoét rỗng ruột, luồn dây điện vào trong đến khi tàu quét, những thân cây này sẽ lăn tròn, dây điện không bị đứt.

Khoảng 8 giờ sáng, đoàn xà lan bắt đầu xuất phát chở vũ khí từ cảng Cát Lái về Tổng kho Long Bình. Khi đoàn xà lan vào trận địa thủy lôi đã bí trí sẵn, ba đồng chí đặc công cho thủy lôi nổ tung đoàn xà lan, phá hủy khoảng 20.000 tấn bom đạn. Với sức nổ lớn của trận địa thủy lôi, ba đồng chí đặc công đã anh dũng hi sinh.

Cuối tháng 12 năm 1967, tại đoạn sông Tiều, Đội 2 với 1 quả mìn định hướng ĐH10 đã đánh cháy tàu Võ Đắc diệt nhiều tên lính trên tàu, cùng lúc ấy tại sông Dinh Bà, một tàu chiến yểm trợ bộ binh càn quét khu vực Rạch Ráng cũng bị khẩu đội ĐKZ75 do đồng chí Xuyên phụ trách bắn hỏng nặng.

Trong một số trận chống càn khác, đồng chí Vũ Bình Bạch chỉ huy các chiến sỹ dùng thủy lôi đánh cháy 1 tàu LCM trên sông Lôi Giang, loại khỏi vòng chiến đấu 100 lính Mỹ.

Đội 4 do đồng chí Võ Nguyên Diệp, đồng chí Trần Thành Lập chỉ huy đã tấn công chi khu Quảng Xuyên. Sau 3 giờ chiến đấu đã tiêu diệt 1 đồn bảo an cấp đại đội, phá sập 4 tua, 2 nhà lính, thu 24 súng có 2 trung liên, một cối 60 và 3 xuồng đạn. Sau trận đánh này, Đội 4 được Bộ chỉ huy Miền đã tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.

4.3.2. Những trận đánh tiêu biểu của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác:

* Tham gia cuộc tiến công nổi dậy tết Mậu Thân 1968:

Bước vào chiến dịch lịch sử này, Đoàn 10 được giao trọng trách: Khóa chặt sông Lòng Tàu, đánh phá bến cảng, kho tàng của địch là nhiệm vụ chủ yếu. Tiêu diệt đồn bót, phá ấp chiến lược, giải phóng đất, giải phóng dân là nhiệm vụ quan trọng.

Hòa vào khí thế tấn công của quân dân miền Nam, Đoàn 10 do đồng chí Tám Sơn, Bảy Ước chỉ huy đánh đồn Phú Hữu (Nhơn Trạch); một đơn vị khác do đồng chí Sáu Tao và Tám Lập chỉ huy đánh đồn Lý Nhơn (Cần Giờ). Các bộ phận còn lại tấn công vào 6 ấp chiến lược khác.

Với sức chiến công dũng mãnh, các đơn vị của Đoàn 10 đã làm chủ được các ấp chiến lược, tiêu hao sinh lực địch. Địch rút lui nhiều vị trí; hệ thống tề xã tan rã. Cơ sở cách mạng tại chỗ được lực lượng vũ trang Đoàn 10 hỗ trợ đã tích cực vận động nhân dân nổi dậy giành chính quyền ở nhiều nơi. Nhiều cơ sở mật được xây dựng ngay trong ấp chiến lược. Phong trào du kích chiến tranh ở địa phương phát triển mạnh mẽ.

Trước tình hình địch hoảng loạn do bị tấn công bấn ngờ, Đại đội 3 do đồng chí Bảy Ai chỉ huy đưa pháo ĐKZ 75 vào Phước Lương bắn cháy tàu tại cảng Cát Lái. Một tổ Đặc công của Đoàn 10 dũng cảm đột nhập vào cảng Nhà Bè, đánh chìm tàu vận tải 10.000 tấn mang tên Touris vào ngày 14 tháng 2 năm 1968. Trong lúc đó, pháo Đặc công đánh thọc sâu, pháo kích vào kho Thành Tuy Hạ, Cát Lái, Nhà Bè.

Ngày 25 tháng 2 năm 1968, địch tổ chức phản kích. Chúng đưa 1 đoàn tàu chiến hộ tống 2 tàu chở hàng có tên là Aridonna và Patrich theo sông Lòng Tàu tiếp tế cho mặt trận Sài Gòn. Đội 2 đã tổ chức đánh chặn, bắn cháy 2 tàu trên.

Tiếp theo, ngày 17 tháng 3 năm 1968, Đội 1 và Đội 2 đánh cháy 3 tàu vận tải khác trên sông Lòng Tàu. Ngay trong đêm này, một khẩu ĐKZ 75 của đội 3 do đồng chí Bảy Ước chỉ huy, đồng chí Ngọc - Xã đội trưởng Phú Hữu dẫn đường đi qua ấp chiến lược Giồng Ông Đông, Câu Kê, Đồng Phèn đến Cát Lái, áp sát 3 chiếc tàu hàng quân sự neo đậu tại cảng Cát Lái mang tên Efflo, Touris, Anava US. Cả 3 chiếc đều bị trúng đạn bốc cháy. Nửa tháng sau cảng này vẫn chưa hoạt động trở lại được trong khi kho Cát Lái tiếp tục bị ta pháo kích.

Tháng 4 năm 1968 địch phát hiện được căn cứ của Đội 2 trên sông Ông Kèo. Chúng định dùng 1 đại đội đánh tiêu diệt đội 2. Ba chiếc LCM xuất hiện với ý đồ bất thần đánh úp khi nước lớn. Tại Sở Chỉ huy, đồng chí Lê Bá Ước quyết định hành động trước. Đồng chí cùng 1 chiến sỹ lên xuồng đến tận Đội 2 điều động súng và chỉ thị mục tiêu. Khi đoàn tàu LCM xuất hiện, các chiến sỹ đội 2 dùng khẩu B41 áp sát mục tiêu bắn chính xác từng phát. Đoàn tàu địch vừa chìm vừa cháy tại chỗ, gần 1 Đại đội Mỹ bị chìm xuống sông.

* Trận đánh trên sông Đá Hàn:

Trận đánh này Sở Chỉ huy Đoàn 10 giao cho Đội 5 sử dụng 8 chiến sỹ do đại Đội trưởng Đinh Hữu Loan chỉ huy. Đồng chí Cao Hồng Ngọt làm Tổ trưởng trực tiếp phụ trách 7 chiến sỹ, xuất phát tại cửa sông Rạch Lá lúc 18 giờ ngày 9 tháng 2 năm 1968, cả đội bơi lội kéo khối thuốc nổ nặng 1.600 kg đến điểm quy định trên sông Đá Hàn và mở nắp phao cho nước vào, dìm khối thuốc xuống đáy sông sâu 22 mét nước, đúng thời gian quy định và đảm bảo an toàn. 3 giờ sáng hôm đó, đơn vị bàn giao cho đồng chí Sáu Sang - Tham mưu trưởng Đoàn 10 cùng với Tổ tác chiến của Ban Tham mưu túc trực trận địa.

Kết quả: 9 giờ ngày 10 tháng 2, khi đoàn tàu hàng địch chạy tới tác động lên ngòi nổ điểm hỏa cho nổ khối mìn, làm hư hỏng nặng 1 tàu tải trọng 7.000 tấn nằm chắn ngang đoạn sông Đá Hàn, gián đoạn đường thủy của địch gần 10 ngày. Cùng lúc đó các đội khác trên sông Lòng Tàu của Đoàn 10 cũng đánh thắng nhiều trận dòn dã: bắn cháy 7 tàu vận tải từ 7.000 đến 10.000 tấn của Mỹ.

* Trận đánh trên sông Độ Hòa và Đồng Tranh:

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ, Đoàn 10 đã tổ chức trận đánh trên sông Độ Hòa và Đồng Tranh. Trận này có sự phối hợp chỉ huy của đồng chí Hai Diệp - Đội trưởng đội 2; đồng chí Tư Thế - Đội trưởng trinh sát và cán bộ Đoàn pháo binh 74 của Phân khu 4. Bốn trái hỏa tiễn ĐKB đã được thay đầu đạn bằng khối thuốc nổ 100 kg lần đầu xuất hiện ở Rừng Sác. Trong vòng 30  phút chiến đấu, Đội 2 đã bắn cháy 1 tàu dầu 10.000 tấn và 1 tàu hàng quân sự 7.000 tấn trên sông Độ Hòa. Tại ngã ba sông Đồng Tranh - Phước Khánh, một tổ hỏa lực cũng bắn trọng thương 1 tàu LCM và 1 tàu dầu 7.000 tấn, diệt nhiều tên địch trên tàu.

Với những thành tích nêu trên, đoàn 10 được Bộ Chỉ huy Miền tuyên dương công trạng.

* Trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ:

Cuối năm 1972, Đoàn 10 nhận được lệnh của Bộ Chỉ huy miền phải đánh bằng được kho bom Thành Tuy Hạ. Đây là nơi dự trữ bom đạn, chất nổ lớn của địch cho cả chiến trường Nam Đông Dương. Ngoài bảy hàng rào tổng hợp bằng dây thép gai có nhiều hàng rào đơn và có một hệ thống mìn, lựu đạn, pháo sáng dày đặc. Xung quanh là một bức tường cao 3m, dưới chân tường có hào sâu ngập nước. Phía trong cùng chúng thả chó và ngỗng. Cùng với hệ thống đèn cực sáng và tháp canh dày đặc. Kế cận khu kho là quân cảng với lực lượng bố phòng cẩn mật.

Để thực hiện nhiệm vụ này, đồng chí Lê Bá Ước - Đoàn trưởng kiêm Chính ủy trực tiếp chỉ đạo chiến sỹ đặc công, điều nghiên cấu trúc và bố phòng của kho bom đạn khổng lồ này. Phương án tác chiến được vạch ra, thông qua Đảng ủy và Ban Chỉ huy Đoàn. Nhiệm vụ cụ thể được giao cho đồng chí Quyết - Đội trưởng Đội 32 trực tiếp chỉ huy quá trình đánh phá kho bom Thành Tuy Hạ.

Công tác tổ chức trận đánh gặp nhiều khó khăn. Đêm 12/10/1972, tổ điều nghiên đột nhập mục tiêu ở hướng Tây Nam. Qua khỏi vòng rào thứ 3, đạp phải trái sáng nên địch phát hiện. Đêm 13 và 14/10 ta đột nhập hướng Nam, qua khỏi 11 lớp rào, phát hiện có bộ binh địch phục kích phải quay ra. Đêm 25/10 đột nhập hướng Đông Bắc gặp bãi mìn lớn không qua được phải ém lại cách mục tiêu 300m. Đêm 27/10 tiếp tục vượt 4 lớp rào, bộ binh địch phát hiện phục kích. Đêm 02/11 đột nhập hướng Tây gặp địch phục kích.

Qua 6 đêm đột nhập vào 4 hướng nhưng tổ điều nghiên không tìm được chỗ hở của địch. Ban Chỉ huy nhận định: các hướng này ta ra vào nhiều lần địch đã chú ý đề phòng, phải tìm hướng khác bất ngờ. Đêm ngày 7 rạng sáng ngày 8/11, hai tổ điều nghiên tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Mỗi tổ 2 người gọn nhẹ, đột nhập vào hướng Tây - Tây Bắc qua được 8 lớp rào, ém lại đợi đến đêm mùng 8 đột nhập vào khu kho, phát hiện được kho thuốc nổ hóa chất và bom Napan. Cùng lúc, tổ thứ 2 đột nhập hướng Đông Nam, đến lớp rào thứ 3 thì gặp địch phục kích phải lùi ra.

Qua kết quả 8 lần đột nhập điều nghiên kho bom Thành Tuy Hạ, Ban Chỉ huy Đoàn 10 quyết định hành động đánh trận mở màn theo hướng Tây Bắc. Thực hiện quyết tâm, đêm 11 rạng ngày 12 tháng 11 năm 1972 tổ Đặc công gồm 4 người do đồng chí Hòa chỉ huy, sử dụng 16 khối thuốc nổ mỗi khối 1,5kg, đột nhập vào khu kho chứa thuốc nổ hóa chất và bom napan. Trong một thời gian khẩn trương, các chiến sỹ đã đặt được 16 khối nổ vào mục tiêu. Khu kho bom Thành Tuy Hạ bốc nổ. Thuốc nổ và bom napan tạo thành 1 đám cháy lớn kéo dài 2 ngày đêm.

Tuy nhiên, việc đánh kho bom Thành Tuy Hạ chưa hoàn thành vì mục tiêu chính chưa đánh trúng. Đêm 11 tháng 12 năm 1972, năm chiến sĩ đặc công do đồng chí Quyết và đồng chí Hòa chỉ huy tiếp tục đột nhập đánh kho bom từ phía cảng Thành Tuy Hạ. Đến khoảng giữa đêm 12 tháng 12, các đồng chí đặc công đã đến được vị trí các kho bom chính, đặc 25 quả mìn vào đáy từng kho và bấm kíp hẹn giờ rồi rút ra đến Bầu Điều an toàn. Kho bom nổ tung, đám cháy kéo dài 4 ngày đêm.

Kết quả: Ta đã phá hủy 23 nhà kho chứa đầy thuốc nổ (tương đương 23.000m3), 19 nhà kho chứa đầy bom napan (với khoảng 60.000 quả) đã bị hủy diệt (tương đương với khoảng hơn 18.000 tấn bom đạn), phá hủy 17 kho đạn pháo 105 ly, phá hủy 17 nhà kho chứa bom CBU. Với trận đánh này, Đoàn 10 được cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.

* Trận đánh kho xăng Nhà Bè:

Nhận được Chỉ thị của Bộ Chỉ huy Miền về việc đánh kho xăng Nhà Bè. Tháng 11 năm 1972, Đội 21 bắt đầu thực hiện các cuộc đột nhập kho xăng Nhà Bè. 

Cảng và kho xăng Nhà Bè cách trung tâm Sài Gòn 8km theo đường chim bay về phía Đông Nam. Bên cạnh cảng là 1 hệ thống kho hoàn chỉnh của ba hãng Caltex, Shell, Esso. Cùng một lúc có thể cho nhiều tàu 8.000 đến 13.000 tấn vào bơm dầu trong cảng. Shell là kho lớn nhất rộng 14 ha, có 72 bồn xăng, phân nửa số bồn này có sức chứa trên 10.000 lít. Đây cũng là kho xăng Shell lớn nhất Việt Nam, cung cấp 60% lượng xăng dầu cho dân sự và quân sự ở miền Nam.

Do tầm quan trọng đặc biệt, kho Shell cũng được bảo vệ một cách đặc biệt. Phía bên trong có 12 lớp rào các kiểu bao bọc với kiểu hàng rào song sắt không cắt được, hàng rào chẻ ba thả dây thép gai bùng nhùng cao 3,5 m, ở đây ngoài mìn, pháo sáng, hệ thống đèn pha, tháp canh... còn có tường bao cao 2,5 m và một hệ thống đường tuần tra bộ, xe đạp, xe honda, ôtô.... Có thể nói: hệ thống phòng thủ ở đây được bố trí theo thế liên hoàn từ cách bố trí lực lượng của Mỹ - Ngụy đến địa hình khu kho. Lực lượng bảo vệ trực tiếp trên bộ, dưới nước, trên không đặt sở chỉ huy ở phía Tây. Toàn bộ khu vực này đặt dưới sự chỉ huy của tên trung tá Nguyễn Bá Duy, quận trưởng kiêm chi khu trưởng chi khu Nhà Bè. Trên bộ, có tiểu đoàn địa phương 835 do tên thiếu tá Quách Vĩnh Chung làm tiểu đoàn trưởng. Ở dưới nước, giang đoàn xung phong số 30 với 11 tàu tuần tiễu và tiến công. Trên không, một máy bay trinh sát L19 và 4 chiếc trực thăng tuần tra. Bên cạnh lực lượng bảo vệ trực tiếp là lực lượng thuộc bộ tổng tham mưu và quân đoàn 3 Ngụy sẵn sàng ứng cứu.

Qua 2 rạch và 2 bãi trống về hướng Nam là cảng của hải quân và cảng - kho xăng của hãng Caltex. Trên cảng hải quân là Bộ Chỉ huy “Đặc khu Rừng Sác” của Ngụy với ba đội Bảo an gồm: 10 đội chốt giữ hệ thống sông Lòng Tàu do tên đại tá Hà Hữu Nhân chỉ huy, một đại đội cảnh sát dã chiến, một đại đội bảo an, một đại đội pháo binh có 4 khẩu 105 ly, 2 khẩu 155 ly, một giang đoàn với 16 tàu chở quân. Cảng hải quân có giang đoàn 15 gồm 16 tàu thường trực bảo vệ đậu tại cảng.

Hướng Bắc - Tây Bắc là khu nhân viên gồm 200 gia đình công nhân hãng Shell, có trục lộ mặt cảng, rạch qua cảng và kho Esso nối liền vàm sông Sài Gòn và kho, cảng quân sự Cát Lái cách 8 km.

Cách phòng thủ của địch từ xa đến gần. Ban ngày, máy bay L19 tuần tra, ban đêm trực thăng quần đảo pha đèn xuống các ngã ba sông, dọc theo sông và các nơi chúng nghi ngờ. Cách tổ chức ra vào khu kho và cảng Nhà Bè hết sức chặt chẽ, mọi người ra vào làm việc phải đeo thẻ nhận dạng do hãng Shell cấp sau khi đã được cảnh sát quốc gia quận Nhà Bè điều tra nghiên cứu chặt chẽ lý lịch. Vào khỏi cổng chính 100m là trạm kiểm soát mà người đi qua, ngoài thẻ nhận dạng còn phải có giấy phép đặc biệt do cảnh sát yếu khu cấp. Khu vực bồn chứa việc kiểm soát càng chặt chẽ hơn. Ở đây, có 7 công nhân bơm dầu dưới sự kiểm soát của 13 tên an ninh riêng của hãng.

Khu kho Nhà Bè cách điểm xuất phát của đặc công Đoàn 10 khoảng 20 km. Địa hình ở đây cách trở, sông rạch, sình lầy, lòng sông Nhà Bè rộng tới 1.300m. Trước đó, một vài lần các chiến sỹ đặc công đội 21 đã vác B41 và cối 81 bắn từ ngoài vào kho Nhà Bè. Nhưng đạn không vào được do hàng rào cao, chỉ làm cháy 32 thùng xăng.

Đầu tháng 3 năm 1973, hai mũi đặc công bắt đầu đi làm nhiệm vụ điều nghiên mục tiêu. Qua nhiều lần đột nhập, quy luật hoạt động cùng những sơ hở của địch đã được ghi nhận tỉ mỉ. Nhờ nắm được tình hình, ta nhanh chóng vượt qua hàng rào hệ thống phòng thủ của địch. Cuối tháng 3 năm 1973, đội 21 bàn giao mục tiêu kho xăng Nhà Bè cho Đội 5, do đồng chí Cao Hồng Ngọt chỉ huy đồng thời Đoàn tăng cường cho Đội 5 một số đặc công giỏi như đồng chí Hà Quang Vóc, Nguyễn Hồng Thế… Qua nhiều lần cân nhắc, Ban Chỉ huy Đội 5 đã chọn 8 người tham gia trận đánh. Đồng chí Hà Quang Vóc trực tiếp chỉ huy trận đánh. Đội trưởng Cao Hồng Ngọt chỉ huy chung.

Tổ trưởng tổ 1 Nguyễn Hồng Thế và Đỗ Hải Quân là hai người đột nhập mục tiêu đầu tiên, lọt qua hàng rào thứ nhất thì trời gần sáng. Hai đồng chí ém dưới đám cỏ lác giữa 2 lớp rào suốt một ngày dầm nước. Đêm thứ 2, từ hàng rào thứ nhất, hai đồng chí đột nhập qua hàng rào thứ 2 và thứ 3, ém lại đây 1 ngày nữa. Chuyến đi này đã mang về những kết luận đầu tiên về hệ thống phòng thủ vòng ngoài của kho Shell và rút ra một phương pháp đột nhập mới.

Qua nhiều lần điều nghiên hết sức công phu, nhóm đặc công Đội 5 đã xác định được lối đột nhập vào kho xăng từ hướng Nam, luồn qua giữa kho Shell và cảng - kho Caltex, cảng hải quân và Sở chỉ huy “Đặc khu Rừng Sác” của địch. Đoàn 10 Đặc công lập kế hoạch trận đánh. Kế hoạch được đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh B2 kiểm tra từng chi tiết một; Đoàn trưởng Lê Bá Ước trực tiếp tổ chức, chỉ huy.

Căn cứ vào quyết tâm của Cấp ủy và Ban Chỉ huy Đội 5, Đảng ủy và Ban Chỉ huy Đoàn 10 hạ quyết tâm phá hủy kho Shell vào đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3 tháng 12 năm 1973. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến: Tận dụng sơ hở của địch để hành động táo bạo, bí mật, bất ngờ, luồn sâu, áp sát, đánh trúng, đánh hủy diệt bằng trái lõm và ngòi nổ hẹn giờ, lui quân bí mật, an toàn. Phương thức tác chiến: Tổ chức thành 2 tổ, luồn sâu, lót sát, đặt trái, điểm hỏa đồng loạt không theo phương pháp cuốn chiếu thông thường từ trong ra ngoài.

Trận đánh có 11 tình huống được dự kiến, mỗi tình huống là một phương án lao lên phía trước hành động, không có phương án rút lui nửa chừng. Kíp, nụ nổ và bộc phá ống đầy đủ, bảo đảm tình huống chuyển từ mật tập sang cường tập.

Ngày 30 tháng 11 năm 1973, Đoàn 10 làm lễ xuất quân. Đoàn trưởng Lê Bá Ước đọc mệnh lệnh chiến đấu. Đội phó Hà Quang Vóc nhận nhiệm vụ và hạ quyết tâm “chưa đốt cháy kho Shell chưa trở về”.

Khoảng 9 giờ 30 phút đêm 12 tháng 12 năm 1973, đồng chí Nguyễn Hồng Thế dẫn đầu tổ đặc công tiến vào mục tiêu. Khoảng 30 phút sau, các đồng chí trong tổ đã tiếp cận được hàng rào. 0 giờ đêm 13 tháng 12, cả tổ qua khỏi hàng rào cuối cùng tiến vào kho xăng Nhà Bè, đặt trái nổ vào đúng vị trí trong kho rồi lần lượt ra khỏi hàng rào.

Đúng 0 giờ 35 phút, kho Nhà Bè bốc nổ. Địch rú còi báo động, bắn trung liên và M79 xối xả, bo bo, tàu thuyền chiến đấu của địch chạy náo loạn trên sông. Kho xăng cháy suốt 12 ngày đêm. Trận đánh đạt hiệu quả cực lớn: Kho Shell hoàn toàn bị thiêu hủy, cháy 35.000 Gallon xăng dầu, tương đương 250 triệu lít, 12 bồn Butagas, 1 tàu dầu Hà Lan 12.000 tấn, một cơ sở lọc dầu, một cơ sở trộn nhớt, một khu chứa lương thực, một khu nhà lính. Về phía ta, đồng chí Bao và đồng chí Tiềm hy sinh. Trận đánh kho xăng Nhà Bè làm chấn động thế giới và nức lòng nhân dân cả nước. Các đồng chí tham gia trận đánh được tặng thưởng Huân chương chiến công. Đoàn 10 được tặng danh hiệu vẻ vang: “ Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam” và tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Từ các thành tích vẻ vang trên, Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác được tặng thưởng tổng cộng: 1 Huân chương Thành đồng hạng nhất, 15 Huân chương Quân công hạng nhì và ba, 24 Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba. Các đơn vị của Đoàn 10 được tặng 4 Huân chương Quân công, 90 Huân chương Chiến công. Sáu đồng chí được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cán bộ chiến sỹ trong toàn đoàn được tặng thưởng 6 Huân chương Quân công, 154 Huân chương Chiến công, 1841 bằng khen, 1740 giấy khen, 16 chiến sỹ thi đua cấp quân khu, 268 chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, 155 dũng sỹ các cấp. Riêng Đại đội 5, với những chiến công xuất sắc đánh kho xăng Nhà Bè, kho bom Thành Tuy Hạ, nhiều tàu lớn trên sông Lòng Tàu được Đảng và Nhà nước 2 lần tuyên dương Anh hùng và 6 cá nhân anh hùng. Đây là đơn vị cấp đại đội có nhiều cá nhân anh hùng nhất trong toàn quân. Ngoài ra, trên địa bàn Rừng Sác và ven rừng Sác có 3 địa phương được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ cứu nước” đó là quân và dân các huyện Cần Giờ, Nhà Bè, Nhơn Trạch.

Tất cả những trận đánh trên do Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác chỉ huy khẳng định sự lãnh đạo sáng tạo, đường lối chiến lược, chiến thuật tài tình của Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Miền Đông... Đây còn là những chiến công oanh liệt quân và dân của các địa phương ven vùng Rừng Sác, Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước góp phần to lớn vào thắng lợi mùa xuân năm 1975; giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

5. Sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến di tích:

 Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác là địa chỉ đỏ về nguồn, là nơi giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ tỉnh nhà và các địa phương lân cận ở khu vực Nam Bộ. Đặc biệt nơi đây chứa đựng bao kỷ niệm về một thời chiến đấu oanh liệt của Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác; quân và dân các địa phương Long Thành, Nhơn Trạch, Cần Giờ, Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đồng bào đã hy sinh anh dũng trong các cuộc chiến đấu, máu hòa đỏ dòng sông, thân mình vùi trong phù sa. Để tưởng nhớ đến những người con thân yêu của Tổ Quốc đã ngã xuống Rừng Sác, ở huyện Nhơn Trạch đã xây dựng Đền thờ liệt sĩ Rừng Sác (xã Long Thọ), Khu lưu niệm Ngã ba Giồng Sắn (xã Phú Đông), xây dựng tượng đài Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác (Cần Giờ). Hàng năm, Ban Liên lạc Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cùng với đông đảo nhân dân các xã xung quanh Rừng Sác long trọng tổ chức lễ cúng giỗ các anh hùng liệt sĩ tại Đền thờ liệt sĩ Rừng Sác và thả hoa đăng trên sông ở Rừng Sác để tưởng nhớ các chiến sĩ Rừng Sác đã anh dũng ngã xuống trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giành độc lộc tự do cho dân tộc.

Nhìn chung, những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng ở di tích còn “đơn điệu” chỉ tập trung vào việc giáo dục truyền thống “về nguồn”, chưa phát huy hết giá trị của di tích.

6. Khảo tả di tích:

6.1. Vài nét về Rừng Sác:

6.1.1 Cảnh quan thiên nhiên:

Rừng Sác là tên gọi chung của một khu vực rừng ngập mặn nguyên sinh rộng lớn gồm Rừng Sác Nhơn Trạch (nằm trên địa phận tỉnh Đồng Nai) và Rừng Sác Cần Giờ (nằm trên địa phận thành phố Hồ Chí Minh). Rừng Sác cách trung tâm thành phố Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 8km theo đường chim bay - một khoảng cách nằm trong tầm pháo. Trong đó, Rừng Sác Nhơn Trạch là một vùng rừng ngập mặn rộng lớn thuộc địa phận huyện Nhơn Trạch nối liền một dải với Rừng Sác Cần Giờ. Đây là một vùng rừng ngập mặn rộng lớn nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai.

Hệ thống đường bộ khu vực Rừng Sác rất ít ỏi, duy nhất chỉ có một đoạn đường ngắn 13km nối Cần Giờ với Đồng Hóa và các đoạn đường 19, 325, 327 chạy cặp triền đồi “Lòng Chảo” Nhơn Trạch bao quanh kho đạn Thành Tuy Hạ ra Long Thành (Quốc lộ 15). Còn lại sử dụng đường thủy với các sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.

Trong hệ thống sông ngòi ở Rừng Sác có 4 sông lớn: Sài Gòn, Đồng Tranh, Thị Vải và Lòng Tàu. Trong đó sông Lòng Tàu là con sông lớn nhất cắt Rừng Sác thành hai khu vực Đông và Tây. Sông dài 50km nối với sông Nhà Bè ra tận biển Đông (đoạn ra biển có tên là sông Ngã Bảy), sông Lòng Tàu có độ sâu và rộng đo được từ 9 đến 12 m, có nơi lên đến 20 - 29m vì thế sông Lòng Tàu cho phép tàu có trọng tải hàng chục tấn qua lại dễ dàng, thậm chí tàu có trọng tải 20 ngàn tấn đều có thể ra vào sông.

Rừng Sác có một hệ sinh thái rừng ngập mặn với điều kiện môi trường rất đặc biệt, trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn. Rừng Sác nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều nên thực vật nơi đây rất phong phú với trên 150 loài. Trong đó, thực vật chủ yếu là đước, bần, mắm, chà là, dừa nước… đặc biệt là quần thể đước đan xen, dựa vào nhau tạo nên một cảnh quan thiên nhiên đặc trưng của Rừng Sác. Bên cạnh đó, rừng Sác còn có hệ động vật phong phú, có loại xuất hiện theo mùa, có loại sống quanh năm với nhiều loài như khỉ, sóc, chuột… nhiều loại chim như cò quắm, sếu, diệc, vẹt, chàng bè, bìm bịp, cú quạ, hồng hộc, le le... nhiều loại bò sát như cá sấu, tắc kè, trăn, rắn, rùa và nhiều loại cá, tôm, cua, ốc....

6.1.2 Vị trí chiến lược của Rừng Sác:

- Đối với kẻ thù:

Đây là vùng trọng yếu tiếp giáp Sài Gòn - Gia Định trung tâm đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Từ lâu sông Lòng Tàu đã trở thành đường thủy quan trọng từ biển vào Sài Gòn. Trong hai cuộc kháng chiến, cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều vận chuyển vũ khí trên trục đường thủy chiến lược này. Đặc biệt, đối với Mỹ, sông Lòng Tàu trở thành yết hầu của cái dạ dày chiến tranh xâm lược với qui mô ngày càng lớn. Song song với việc đổi cảng mới Sài Gòn đã có từ trước, Mỹ đã xây dựng 6 cảng quân sự nữa trên vùng sông Sài Gòn như quân cảng Nhà Bè, Cát Lái, Thành Tuy Hạ, Rạch Dừa ở đầu và ở cuối sông Lòng Tàu để thay thế cảng Sài Gòn về việc tiếp nhận hàng quân sự. Sông Lòng Tàu trở thành con đường vận chuyển chiến lược sống còn của Mỹ, tướng Mỹ Wetmoreland gọi sông Lòng Tàu là “con đường thủy huyết mạch”.

Trong hồi ký về chiến tranh Việt Nam, tướng Mỹ Wetmoreland cho biết “chưa đầy 2,5 năm (tính từ năm 1965), Mỹ đã xây dựng một hệ thống hậu cần hiện đại tại một nước kém phát triển có khả năng chi viện cho trên 1,5 triệu quân thuộc các nước khác nhau, đồng thời cung cấp những khối lượng hàng lớn tiếp tế cho dân chúng địa phương. Trong thời gian này, trên vùng hai đầu sông Lòng Tàu đã mọc lên những kho tàng chiến tranh lớn nhất: Long Bình, Nhà Bè, Cát Lái, Thành Tuy Hạ… Tổng khối lượng chiếm 60% khối lượng dự trữ hàng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam”.

Với nhịp độ hoạt động hậu cần như vậy, sông Lòng Tàu và Rừng Sác trở thành một mối lo cho tướng Mỹ Wetmoreland : “Từ lâu tôi vẫn sợ Việt Cộng đánh chìm những chiếc tàu lớn dọc đoạn đường 40 dặm của sông Sài Gòn nhằm chặn con đường thủy huyết mạch từ sông Sài Gòn ra biển. Con đường chính này chảy qua một vùng rộng 50 dặm vuông gồm toàn đầm hồ, cây sú, cây vẹt và có hàng trăm ngàn phụ lưu, một vùng gọi là Rừng Sác, được coi là căn cứ lý tưởng cho Việt Cộng sử dụng đánh tàu bè…” vì thế chúng đã xây dựng một tổ chức quân sự Ngụy gọi là “Biệt khu rừng Sác” trực thuộc Khu 31 chiến thuật.

Năm 1963, để tăng cường sức mạnh, bộ Tổng tham mưu Sài Gòn cho đổi “Biệt khu Rừng Sác” thành “Đặc khu Rừng Sác” chịu sự chỉ huy của Tư lệnh quân khu 3 (Ngụy) về mặt lãnh thổ và trực thuộc chỉ huy của Bộ Tư lệnh Hải Quân về mặt hành quân tác chiến. Bộ Chỉ huy Đặc khu đóng ngay cạnh quân cảng Nhà Bè do Trung tá Nguyễn Việt Thanh - một tên ác ôn khét tiếng làm Chỉ huy trưởng và Thiếu tá Lương Văn Bè làm Chỉ huy phó.

Lực lượng đặc khu tương đương một trung đoàn chủ lực họp thành từ các quân binh chủng Hải quân, pháo binh, được tăng cường một phi đội máy bay lên thẳng có vũ trang, được trang bị tàu bò bo, tàu tuần, tàu há mồm đổ bộ LCM, tàu quét mìn. Về pháo binh có trận địa 105 ly và 155 ly đặt tại các căn cứ: Nhà Bè, Phước Khánh, Ăn Thịt… Cùng với Đặc khu Rừng Sác, Đặc khu Vũng Tàu, năm Tiểu khu: Gò Công, Long An, Gia Định, Biên Hòa, Phước Tuy; các khu Lý Nhơn, Ăn Thịt, Cần Giờ, Quảng Xuyên, Nhơn Trạch và các đơn vị Bảo an địa phương hình thành thế bao vây, chia cắt Rừng Sác một cách chặt chẽ. Ngoài ra, Mỹ còn điều động về Rừng Sác Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 199 và ưu tiên cho mọi chi viện kể cả không quân chiến lược, Hải quân Ngụy, trong đó có cả Hạm đội 7 để trục xuất lực lượng cách mạng ra khỏi Rừng Sác.

- Đối với lực lượng cách mạng:

Rừng Sác là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta. Nó có đủ độ sâu để bao trùm cả sông Lòng Tàu và đủ rộng để làm gạch nối giữa sông Soài Rạp và Quốc lộ 15.

Rừng Sác nằm ở vị trí gần căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Miền Đông và các đơn vị chủ lực của Bộ tư lệnh Miền, Quân khu 7... Phần lớn diện tích Rừng Sác thuộc địa bàn huyện Cần Giờ và Nhơn Trạch - cái rốn của căn cứ địa kháng chiến, là địa phương có phong trào cách mạng sôi nổi, người dân kiên trung, anh dũng, một lòng gắn bó với cách mạng…

Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ - Ngụy, Rừng Sác là một vùng có nhiều căn cứ kho tàng, đường giao thông vận chuyển quan trọng của ta. Rừng Sác là điểm trung chuyển của hệ thống giao thông đường bộ từ thành phố Sài Gòn, Biên Hòa đi Vũng Tàu; hệ thống giao thông đường thủy chiến lược từ Bắc vào Nam, là nhánh rẽ của “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” đồng thời là nơi đứng chân của các lực lượng cách mạng địa phương Cần Giờ và các vùng lân cận. Đây cũng là nơi các đơn vị tiếp nhận vũ khí từ đường mòn Hồ Chí Minh trên biển mang phiên hiệu Đoàn 60B. 

Rừng Sác không chỉ đơn giản là một khu rừng ngập mặn mà là trận đồ bát quái của mạng nhện luồng lạch, một pháo đài tự nhiên của trùng điệp đảo triều với hàng trăm đảo triều lớn nhỏ dàn thế bao vây quân thù từ cửa ngõ đại dương, vì thế Rừng Sác sớm trở thành căn cứ địa kháng chiến - một chiến khu ở sát sào huyệt, trong vòng vây của kẻ thù vẫn đứng vững.

Từ khi Sài Gòn trở thành trung tâm đầu não của chính quyền Việt Nam cộng hòa, Rừng Sác được ví như yết hầu của “dạ dày chiến tranh” quân xâm lược Mỹ, sông Lòng Tàu trở thành “khúc ruột” vận chuyển hàng hóa chiến tranh với quy mô ngày càng lớn. Các đoàn tàu vận tải quân sự của Mỹ nối đuôi nhau vào miền Nam Việt Nam qua sông Lòng Tàu (Rừng Sác) biến con sông này trở thành con đường vận chuyển quân sự chiến lược của Mỹ mà tướng Mỹ Wetmoreland từng gọi là “đường thủy huyết mạch”. Từ vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của Rừng Sác nói trên, Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác được thành lập.

Ngày 15 tháng 4 năm 1966, Đặc khu Quân sự Rừng Sác có quyết định thành lập và căn cứ Sở Chỉ huy được đặt ở Rạch Tràm. Do tình hình chiến trường, để thuận lợi cho việc chỉ huy chiến đấu, cuối năm 1966, căn cứ được chuyển qua Tắc Ngang, sông Ba Gioi. Sau khi Đặc khu Quân sự Rừng chuyển thành Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, nơi đây được Sở Chỉ huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác tiếp tục chọn làm căn cứ để chỉ đạo chiến đấu.

Địa điểm di tích tọa lạc nằm ở một vị trí kín đáo, thuận lợi cho việc chỉ đạo tác chiến của Sở Chỉ huy. Từ căn cứ của Sở Chỉ huy đi ra sông Lòng Tàu bằng phương tiện đường thủy thông qua Tắc Cái Ngang và Sông Ba Gioi, Rạch Ông Trùm và ngược lại.

6.2 Phạm vi, quy mô, các hạng mục của khu di tích theo lời kể của nhân chứng:

6.2.1 Phạm vi, quy mô:

Đặc khu Quân sự Rừng Sác là một khu vực quân sự rộng lớn hàng trăm ngàn ha, phía Đông giáp đường 15, phía Tây giáp sông Soài Rạp, phía Bắc giáp đường 19, phía Nam tiếp giáp biển Đông. Đây là một tập hợp lực lượng địa phương gồm 10 xã thuộc nhiều tỉnh khác nhau như Biên Hòa (nay là Đồng Nai), Bà Rịa - Vũng Tàu, Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Trong đó, địa điểm mà Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác, sau này là Sở Chỉ huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác chọn làm căn cứ thuộc địa bàn khu vực Rừng Sác, xã Phước An, quận Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai có diện tích khoảng 396 ha.

6.2.2 Các hạng mục trong di tích theo lời kể của nhân chứng:

6.2.2.1 Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác:

Theo lời kể của nhân chứng và căn cứ vào các tài liệu lịch sử thì trong khu vực Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác trước kia có các hạng mục:

- Trạm gác của Đội Vệ binh:

Trạm gác Đội vệ binh còn gọi là Nhà cảnh vệ nằm cách điểm cuối rạch Tắc Cái Tròn khoảng 200m rẽ vào khu căn cứ. Trạm gác có diện tích khoảng 6m(2m x 3m); được làm đơn sơ bằng các vật liệu có sẵn tại chỗ. Sàn nhà và khung bao quanh được làm bằng cây đước, chà là gai. Mái dạng hai mái, được lợp bằng lá dừa nước. Đây là nơi các chiến sĩ thuộc Đội vệ binh canh gác, trinh sát nắm tình hình địch, báo cho Sở Chỉ huy và chiến đấu bảo vệ căn cứ.

- Nhà khách:

Nhà khách còn gọi là nhà tiếp đón nằm cách Trạm gác Đội vệ binh khoảng 200m về phía Đông Bắc; có diện tích 50m2 (5m x 10m). Nhà khách được làm có dạng lán dài với các vật liệu có sẵn trong căn cứ, chủ yếu là cây đước, chà là gai và lá dừa nước. Nội thất bên trong bài trí các bàn, ghế được làm bằng gỗ đước, chà là gai để đón tiếp các đoàn khách đến công tác tại đơn vị.

- Ban Tham mưu:

Ban Tham mưu nằm cách Nhà khách khoảng 150m về phía Tây; có diện tích khoảng 20m2 (4m x 5m). Đây là nơi tham mưu các nhiệm vụ của Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Nhà Ban tham mưu được làm bằng các vật liệu có sẵn tại chỗ như sàn, khung nhà bằng chà là gai, đước; mái lợp lá dừa nước. 

- Ban Chính trị:

Ban Chính trị nằm cách Nhà khách khoảng 200m về phía Nam; có diện tích khoảng 20m2 (4m x 5m). Đây là nơi thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Nhà được làm bằng chà là gai, đước và lá dừa nước.

 

- Nhà làm việc của Phó Chính ủy:

Nhà làm việc của Phó Chính ủy tọa lạc cách Nhà khách khoảng 300m về hướng Đông Nam; có diện tích 15m2 (3m x 5m). Đây là nơi làm việc của Phó Chính ủy Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Nhà làm việc của Phó Chính ủy dạng nhà hai mái. Mái được lợp bằng lá dừa nước. Khung nhà và sàn nhà được làm bằng cây đước, chà là gai; xung quanh có tường dạng song làm bằng đước. Phía trong nhà có một cái bàn làm việc và giường ngủ; tất cả những vật dụng này cũng được làm từ cây đước.

- Nhà làm việc của Phó Tư lệnh:

Nhà làm việc của Phó tư lệnh tọa lạc cách Nhà khách khoảng 400m về hướng Đông Bắc; có diện tích 15m2 (3m x 5m). Đây là nơi lam việc của Phó Tư lệnh Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Kiểu dáng và nội thất bên trong giống như Nhà làm việc của Phó Chính ủy.

- Ban Quân y:

Ban Quân y nằm cách Nhà làm việc của Phó tư lệnh khoảng 150m về phía Nam; có diện tích khoảng 35m2 (7m x 5m). Đây là nơi khám chữa bệnh, cứu thương của đơn vị. Nhà của Ban Quân y được làm bắng các vật liệu giông như các hạng mục khác trong căn cứ.

- Hội trường:

Hội trường nằm ở vị trí trung tâm của khu căn cứ, cách Ban Quân y khoảng 100m về phía Tây Nam. Hội trường có diện tích khoảng 100m2 (10m x 10m). Hội trường nằm ẩn mình dưới rừng đước, tránh sự phát hiện của địch. Hội trường được làm có dạng lán dài với các vật liệu có sẵn trong căn cứ chủ yếu là cây đước và lá dừa nước. Hệ hống cột được các chiến sĩ tận dụng những cây đước còn sống để làm. Sau đó, hệ thống khung bao quanh được làm bằng cây đước dùng dây buộc vào hệ thống cột. Mái dạng hai mái và được lợp bằng lá dừa nước với hệ thống rui mè là những cây đước. Do đặc trưng là vùng sình lầy, sông nước nên hội trường cũng như các hạng mục khác trong khu căn cứ không thể làm nền bằng đất mà phải làm dưới dạng nhà sàn. Sàn nhà được sử dụng thân cây đước xếp lại. Đây là nơi tổ chức họp bàn kế hoạch, triển khai công việc tác chiến... của Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Ngoài ra, đây còn là nơi ăn uống, nghỉ ngơi và sinh hoạt văn nghệ của đơn vị.

- Nhà thông tin cơ yếu:

Nhà thông tin cơ yếu nằm cách hội trường của đơn vị khoảng 50m về phía Tây. Nhà có diện tích khoảng 20m2 (5m x 4m); được làm bằng đước và lá dừa nước. Đây là nơi phụ trách về thông tin, điện đài của đơn vị.

- Nhà làm việc của Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy: 

Nhà làm việc của Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy tọa lạc cách Hôi trường khoảng 400m về hướng Tây Nam. Nhà làm việc của Chính ủy có diện tích 15m2 (5m x 3m). Đây là nơi làm việc của Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy Đặc khu. Kiểu dáng và nội thất bên trong giống như Nhà làm việc của Phó Chinh ủy.

- Nhà bếp:

Nằm cách hội trường của đơn vị khoảng 500m về phía Nam. Nhà có diện tích khoảng 20m2 (5m x 4m), được làm bằng đước và lá dừa nước. Đây là nơi phụ trách nấu ăn của đơn vị.

- Hầm trú ẩn:

Dưới mỗi nhà làm việc, hội trường đều có làm hầm trú ẩn dạng chữ H hoặc chữ L. Do địa hình là một khu vực rừng ngập mặn với sình lầy, ngập nước quanh năm nên hệ thống hầm được đào sâu khoảng 1,5 m, lấy đước làm khung phủ trên mặt đất khoảng 1m rồi đắp bùn. Trong căn cứ có khoảng 15 hầm trú ẩn. Mỗi hầm có diện tích khoảng 5m2. Hệ thống hầm nằm ngay dưới các hạng mục hoặc dọc hệ thống lối đi nối các hạng mục của di tích. Đây là nơi trú ẩn của các cán bộ chiến sĩ Đặc khu Quân sự Rừng Sác khi bị địch ném bom, bắn phá, oanh kích.

6.3.2 Căn cứ Sở Chỉ huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác:

Theo lời kể của nhân chứng và căn cứ vào các tài liệu lịch sử thì trong khu vực căn cứ Sở Chỉ huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác trước kia có các hạng mục:

 

- Trạm gác của Đội Vệ binh:

Trạm gác Tiểu đội Vệ binh nằm ở vị trí cũ, có kiểu dáng kích thước giống như Trạm gác của Đội Vệ binh Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Còn các hạng mục khác nằm cách vị trí cũ khoảng 500m về phía Tây Bắc. Cụ thể:

- Nhà khách:

Nhà khách còn gọi là nhà tiếp đón; có diện tích khoảng 50m(10m x 5m). Nhà khách nằm cách Trạm gác Tiểu đội vệ binh khoảng 600m về phía Tây Bắc. Nhà khách được làm có dạng lán dài với các vật liệu có sẵn trong căn cứ chủ yếu là cây đước, chà là gai và lá dừa nước, bên trong bài trí các bàn được làm bằng gỗ đước, chà là gai để đón tiếp các đoàn khách đến công tác tại đơn vị.

- Nhà làm việc của Chính ủy: 

Nhà làm việc của Chính ủy tọa lạc cách Nhà khách khoảng 100m về hướng Đông Bắc. Nhà làm việc của Chính ủy có dạng nhà hai mái. Mái được lợp bằng lá dừa nước. Khung nhà và sàn nhà được làm bằng cây đước, chà la gai. Xung quanh có tường dạng song làm bằng đước. Phía trong nhà có một cái bàn làm việc và giường ngủ; tất cả các vật dụng này đều làm từ đước và chà là gai.

- Nhà làm việc của Chỉ huy phó: 

Nhà làm việc của Chỉ huy phó tọa lạc cách nhà làm việc của Chính ủy khoảng 100m về hướng Tây Bắc. Kiểu dáng, kích thước, chất liệu và nội thất bên trong... giống nhà làm việc của Chính ủy.

- Hội trường:

Hội trường nằm ở vị trí trung tâm của khu căn cứ, cách nhà khách khoảng 300m. Hội trường có diện tích khoảng 150m2 (15m x 10m). Hội trường nằm ẩn mình dưới rừng đước, tránh sự phát hiện của địch. Hội trường được làm có dạng lán dài với các vật liệu có sẵn trong căn cứ chủ yếu là cây đước và lá dừa nước. Hệ hống cột được các chiến sĩ tận dụng những cây đước còn sống để làm. Sau đó, hệ thống khung bao quanh được làm bằng cây đước dùng dây buộc vào hệ thống cột. Mái dạng hai mái và được lợp bằng lá dừa nước với hệ thống rui mè là những cây đước. Do đặc trưng là vùng sình lầy, sông nước nên hội trường cũng như các hạng mục khác trong khu căn cứ không thể làm nền bằng đất mà phải làm dưới dạng nhà sàn. Sàn nhà được sử dụng thân cây đước xếp lại. Đây là nơi tổ chức họp bàn kế hoạch, triển khai công việc tác chiến... của Sở chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Ngoài ra, đây còn là nơi ăn uống, nghỉ ngơi và sinh hoạt văn nghệ của đơn vị.

- Nhà làm việc của Chỉ huy trưởng:

Nhà làm việc của Chỉ huy trưởng nằm cách hội trường khoảng 100m về phía Tây Bắc, có diện tích khoảng 10m2 (5m x 2m). Đây là nơi ở và làm việc của Chỉ huy trưởng. Nhà làm việc của Chỉ huy trưởng có kiểu dáng, kích thước, chất liệu và nội thất bên trong… giống nhà làm việc của Chính ủy.

- Nhà thông tin cơ yếu:

Nhà thông tin cơ yếu nằm cách hội trường của đơn vị khoảng 100m về phía Tây Nam. Nhà có diện tích khoảng 25m2 (6,25m x 4m); được làm bằng đước và lá dừa nước. Đây là nơi phụ trách về thông tin, điện đài của đơn vị.

- Ban Chính trị:

Ban Chính trị nằm cách Nhà khách khoảng 200m về phía Nam; có diện tích khoảng 20m2 (5m x 4m). Đây là nơi tham mưu, thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Nhà được làm bằng đước, chà là gai và lá dừa nước.

- Ban Hậu cần:

Nằm cách Ban Chính trị khoảng 100m về phía Tây. Nhà có diện tích khoảng 36m2 (9m x 4m); được làm bằng đước, chà là gai và lá dừa nước. Đây là nơi phụ trách về công tác hậu cần của đơn vị.

- Ban Tham mưu:

Ban Tham mưu nằm cách Ban Chính trị khoảng 300m về phía Tây Nam; có diện tích khoảng 20m2 (5m x 4m). Đây là nơi tham mưu các nhiệm vụ của Đoàn 10. Nhà của Ban Tham mưu được làm bằng các vật liệu có sẵn tại chỗ như sàn, khung bằng đước; mái lợp lá dừa nước.

- Nhà bếp:

Nằm cách hội trường của đơn vị khoảng 150m về phía Tây Bắc. Nhà có diện tích khoảng 49m2 (9,8m x 5m) được làm bằng đước và lá dừa nước. Đây là nơi phụ trách nấu ăn của đơn vị.

- Nhà Quân nhu:

Nằm cách Nhà bếp khoảng 100m về phía Tây Nam. Nhà có diện tích khoảng 36m2 (9m x 4m) được làm bằng đước và lá dừa nước. Đây là nơi phụ trách vệc may mặc cho đơn vị.

- Bệnh xá:

Nằm cách Nhà Quân nhu khoảng 250m về phía Bắc. Nhà có diện tích khoảng 56m2 (11,2m x 5m) được làm bằng đước và lá dừa nước. Bên trong bố trí các giường bệnh bằng cây chà là, đước. Đây là nơi phụ trách về vệc cấp cứu, chữa bệnh cho đơn vị.

- Công binh xưởng:

Công binh xưởng nằm cách Nhà Quân nhu khoảng 300m về phía Tây Bắc. Đây là nơi sản xuất, chế tạo ra các loại vũ khí của đơn vị. Công binh xưởng có diện tích khoảng 100m2 (20m x 5m), được làm bằng các vật liệu có sẵn tại chỗ như sàn, khung bằng đước; mái lợp lá dừa nước.

- Hầm trú ẩn:

Dưới mỗi nhà làm việc, hội trường đều có làm hầm trú ẩn dạng chữ H hoặc chữ L. Do địa hình là một khu vực rừng ngập mặn với sình lầy, ngập nước quanh năm nên hệ thống hầm được đào sâu khoảng 1,5 m, lấy đước làm khung phủ trên mặt đất khoảng 1m rồi đắp bùn. Trong căn cứ có khoảng 18 hầm trú ẩn. Mỗi hầm có diện tích khoảng 5m2. Hệ thống hầm nằm ngay dưới các hạng mục hoặc dọc hệ thống lối đi nối các hạng mục của di tích. Đây là nơi trú ẩn của các cán bộ chiến sĩ Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác khi bị địch ném bom, bắn phá, oanh kích.

- Dụng cụ lọc nước mặn thành nước ngọt:

Ở căn cứ Rừng Sác, nước bao quanh, nhưng các cán bộ chiến sĩ vẫn phải chịu khát vì nước bị nhiễm mặn không thể sử dụng trong sinh hoạt được đặc biệt là sử dụng để ăn uống. Muốn có nước uống, anh em lại phải đi lấy nước ở những giếng nước giáp vùng ấp chiến lược của địch và nhiều chiến sĩ đã nằm lại dưới lưới đạn của địch. 

Trong hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt của thiên nhiên, cán bộ và chiến sĩ Rừng Sác vừa chiến đấu, vừa phải nghiên cứu, tìm cách để giải quyết vấn đề về nước ngọt. Họ đã sáng tạo ra cách nấu nước mặn thành nước ngọt theo kiểu “chưng cất” như nấu rượu.  Đầu tiên, họ dùng nước sông cho vào nồi đun sôi cho bốc hơi và ngưng tụ bên trên có chảo ngưng và có máng dẫn nước ngưng đó đến một dụng cụ chứa để có được nước tinh khiết.

Việc chưng cất nước mặn thành nước ngọt được thực hiện một cách kín đáo để khói không lan tỏa lên bầu trời, tránh bị địch phát hiện, oanh tạc vào căn cứ. Số nước ít ỏi này được chia cho anh em theo tiêu chuẩn trung bình mỗi người được 4 lon sữa bò/ngày. Ngoài cách “chưng” nước độc đáo này, các chiến sĩ đặc công còn lấy nước bằng cách chẻ cây ra thành từng thanh nhỏ rồi ghép lại giống hình chiếc thùng, sau đó lót tấm nilon vào bên trong để hứng nước mỗi khi trời mưa…

Nhìn chung, sự sáng tạo ra cách chưng cất nước mặn thành nước ngọt của cán bộ và chiến sĩ Rừng Sác là một sáng tạo độc đáo, tuyệt vời để đảm bảo ngồn nước ngọt phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của ta trong căn cứ. Đây là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào chiến thắng Mỹ - ngụy của cán bộ và chiến sĩ Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

 Ngoài ra, trong căn cứ còn có hệ thống đường đi, cầu khỉ nối liền hội trường với các nhà làm việc, các phòng, nhà bếp... được làm bằng cây đước, hệ thống lọc cất nước mặn thành nước ngọt… Những khu nhà được làm đơn giản bằng vật liệu cây đước, chà là và lá dừa nước. Các địa điểm này được nối thông với nhau qua hệ thống cầu đi nội bộ được làm từ những cây đước. Tất cả được bao bọc và ẩn nấp dưới màu xanh của rừng đước nhờ vậy mà địch không phát hiện được, đảm bảo an toàn cho Sở Chỉ huy.

6.4 Vị trí hiện nay:

Rừng Sác hiện nay trải dài trên địa bàn các tỉnh Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại khu vực Rừng Sác (thành phố Hồ Chí Minh) thuộc Đảo Khỉ, huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh); Quân khu 7 đã phối hợp với UBND thành phố phục dựng ở đây một số hạng mục của Căn cứ Sở Chí huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác theo mô hình thu nhỏ.

Tuy nhiên, phần Rừng Sác thuộc xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai hiện nay mới là nơi tọa lạc của Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác xưa kia. Vị trí này thuộc Rừng Giống.

Địa hình, cảnh quan nơi đây vẫn giữ được tương đối nguyên vẹn với hệ thực vật và động vật phong phú đặc biệt là các rừng đước xanh tươi, phủ kín. Tuy nhiên, do điều kiện đảm bảo bí mật trong chiến tranh, sau khi chuyển địa điểm, hệ thống nhà làm việc, các cơ sở binh công xưởng… của Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đã được phá hủy toàn bộ.

Diện tích dự kiến quy hoạch di tích Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác 3956537m2; được giới hạn bởi các mốc và hệ tọa độ trên bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích, có tọa độ như sau: 1 (x: 1174069,03; y: 410789,26); 2 (x: 1173844,46; y: 410967,64); 3 (x: 1173754,83; y: 410960,95); 4 (x: 1173745,20; y: 411046,77); 5 (x: 1173512,18; y: 411263,89); 6 (x: 11736,31,34; y: 411322,31); 7 (x: 1173856,62; y: 411507,45); 8 (x: 1173865,01; y: 411491,68); 9 (x: 1173899,42; y: 411482,90); 10 (x: 1173869,48; y: 411500,00); 11 (x: 1173759,88; y: 411709,61); 12 (x: 1173817,65; y: 411711,40); 13 (x: 1173850,72; y: 411738,87); 14 (x: 1174109,86; y: 411550,93); 15 (x: 1174141,57; y: 411563,63); 16(x: 1174212,78; y: 411687,49); 17 (x: 1174265,95; y: 411719,05); 18 (x: 1174325,59; y: 411918,76); 19 (x: 1174435,33; y: 411984,96); 20 (x: 1174480,53; y: 411961,26); 21 (x: 1174471,96; y: 411990,82); 22 (x: 1174456,93; y: 412000,46); 23 (x: 1174509,74; y: 412506,47); 24 (x: 1174550,48; y: 412130,42); 25 (x: 1174552,18; y: 412245,61); 26 (x: 1174687,61; y: 412329,52); 27 (x: 1174758,91; y: 412364,08); 28 (x: 1174812,67; y: 412312,02); 29 (x: 1174901,20; y: 412345,27), 30 (x: 1174919,96; y: 412431,52); 31 (x: 1175006,36; y: 412492,78); 32 (x: 1175064,95; y: 412535,63); (x: 1175140,96; y: 412569,56); 34 (x: 1175264,44; y: 412598,84); 35 (x: 1175421,01; y: 412558,00); 36 (x: 1175332,00; y: 412380,20); (x: 1175363,74; y: 412191,12); 38 (x: 1175642,14; y: 412293,50); 39 (x: 1175898,48; y: 412184,29) 40 (x: 1176058,19; y: 412201,88); 41 (x: 1176074,40; y: 412052,59); 42 (x: 1176015,28; y: 411933,24); 43 (x: 1176371,78; y: 411879,07); 44 (x: 1176497,48; y: 411791,89); 45 (x: 1176569,96; y: 411680,38); 46 (x: 1176424,94; y: 411573,78); 47 (x: 1176298,31; y: 411633,50); 48 (x: 1176139,62; y: 411586,45); 49 (x: 1176182,89; y: 411341,31); 50 (x: 1176109,26; y: 411048,47); 51 (x: 1176174,36; y: 410773,11); 52 (x: 1176333,58; y: 410632,64); 53 (x: 1176470,59; y: 410436,68); 54 (x: 1176480,05; y: 410346,24); 55 (x: 1176416,88; y: 410266,74); 56 (x: 1176265,58; y: 410144,35); 57 (x: 1176058,75; y: 410325,75); 58 (x: 1175880,48; y: 410496,90); 59 (x: 1175845,66; y: 410411,56); 60 (x: 1175627,20; y: 410420,10); 61 (x: 1175390,63; y: 410357,39); 62 (x: 1175139,08; y: 410575,42); 63 (x: 1174761,19; y: 410629,95); 64 (x: 1174565,96; y: 410755,89); 65 (x: 1174310,08; y: 410621,80) bao gồm: Khu vực 1 rộng khoảng 1179994m2, khôi phục, tái hiện căn cứ của Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác. Khu vực 2 rộng khoảng 2776543m2, bảo tồn, phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn; xây dựng các công trình phục vụ việc phát huy giá trị di tích và phát triển du lịch. 

Nhìn chung, hiện nay địa điểm Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác chọn làm căn cứ về cơ bản vẫn còn giữ được cảnh quan thiên nhiên với những rừng đước xanh bạt ngàn, bao quanh.

7. Các hiện vật trong di tích:

Trải qua thời gian dài và sự tàn phá của chiến tranh, hiện nay, các hiện vật và cơ sở vật chất của di tích không còn tồn tại.

8. Giá trị của di tích:

8.1 Giá trị lịch sử:

- Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác giữ vị trí chiến lược quan trọng, là nơi ghi dấu sự lãnh đạo sáng tạo, đường lối chiến lược, chiến thuật tài tình của Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục Miền Nam, Khu ủy Miền Đông...

- Di tích là căn cứ quân sự quan trọng đối với chiến trường miền Nam, đặc biệt đối với Biên Hòa (Đồng Nai) và thành phố Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

- Di tích là nơi ghi dấu những chiến công oanh liệt, những gian lao, thử thách, những hy sinh mất mát của quân và dân các địa phương ven vùng Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

- Di tích Sở Chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác là địa chỉ về nguồn giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

8.2 Giá trị sinh thái và du lịch: 

- Hệ thống Rừng Sác Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) đã được công nhận là khu sinh quyển rừng ngập mặn. Rừng Sác Đồng Nai nằm liền với Rừng Sác Cần Giờ có đầy đủ các yếu tố cảnh quan, hệ sinh thái, động thực vật... có thể đề nghị công nhận là khu sinh quyển rừng ngập mặn Đồng Nai.

- Đây là khu vực có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, chiếm ¼ diện tích. Rừng Sác Đồng Nai thuận lợi cho việc phát triển du lịch, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.

- Là một khu vực có tiềm năng phát triển du lịch lớn dựa vào các yếu tố thuận lợi từ thiên nhiên và bề dày về lịch sử văn hóa.

9. Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di tích:

Nhận thức được vai trò của nhà nước đối với việc quản lý hoạt động bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản, UBND huyện Nhơn Trạch đã thành lập Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện Nhơn Trạch. Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý Di tích - Danh thắng tỉnh, Huyện ủy, UBND huyện Nhơn Trạch và các ban ngành đoàn thể đã có sự gắn kết chặt chẽ, phối hợp trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trên địa bàn huyện trong đó có di tích lịch sử Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

Hiện nay, di tích Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác nằm trong hệ thống rừng phòng hộ tỉnh Đồng Nai.  Di tích được Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện Long Thành quản lý, chăm sóc, gìn giữ, bảo vệ tốt. Các con sông và hệ thống kênh rạch ở đây được bảo vệ, gìn giữ tốt; cảnh quan thiên nhiên trong khu vực di tích ngày càng được phục hồi nhờ việc chú trọng trồng và phát triển hệ thống rừng ngập mặn ở đây.

Di tích trở thành “địa chỉ đỏ” về nguồn của thế hệ trẻ Đồng Nai nói riêng và Đông Nam Bộ nói chung. Đây chính là một trong những địa điểm có vai trò quan trọng trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Di tích là nơi thăm lại chiến trường xưa, ôn lại kỷ niệm một thời hào hùng của các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí cựu chiến binh trong và ngoài tỉnh vào các ngày kỷ niệm thương binh liệt sĩ, ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bên cạnh đó, tại Nhà truyền thống huyện Nhơn Trạch ở di tích Địa đạo Nhơn Trạch cũng có một mảng lớn trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật, tài liệu khoa học phụ về Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác nhằm tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho các nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ khi đến tham quan nhà truyền thống.

10. Phương hướng bảo vệ và phát huy giá trị di tích:

Để bảo vệ tốt di tích lịch sử Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, các cấp chính quyền, Sở, Ban ngành có liên quan cần tiến hành triển khai các hoạt động nghiệp vụ cần thiết trước mắt và lâu dài để có kế hoạch bảo tồn, tôn tạo di tích.

Trước mắt cần nhanh chóng nghiên cứu, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia để có phương án và kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di tích theo đúng Luật Di sản Văn hóa, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa; Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ban hành theo Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); đề án quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai (2010 - 2020).

Các phương án bảo vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích lịch sử Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác như sau:

10.1. Tổ chức bộ máy và xây dựng cơ chế quản lý, quảng bá giới thiệu về di tích:

Để khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch và bảo vệ tốt giá trị di sản này cho các thế hệ mai sau; việc thành lập bộ máy tổ chức và xây dựng mô hình quản lý là hết sức cần thiết và cấp bách sau khi di tích được xếp hạng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm: Bảo vệ, chăm sóc rừng, bảo tồn - tôn tạo di tích lịch sử; quản lý các hoạt động du lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch.

Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện Nhơn Trạch phải xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan quản lý di tích huyện, tỉnh; cơ quan quản lý rừng phòng hộ Long Thành, UBND xã Phước An và các đơn vị có liên quan trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích và hoạt động du lịch. Quy chế này có vai trò hết sức quan trọng, là vấn đề cấp bách sống còn đối với phát triển lâu dài của khu di tích Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Bên cạnh đó, các ban ngành cần có kế hoạch khai thác tiềm năng của Rừng Sác, xây dựng và phát triển nơi đây thành một điểm du lịch sinh thái rừng ngập mặn hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Đồng thời Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh phải phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan xây dựng chiến lược quảng bá, giới thiệu di tích một cách sâu rộng, có hiệu quả đến với đông đảo du khách trong nước và quốc tế.

Ngoài sự quản lý của cơ quan nhà nước còn có sự tham gia quản lý của các doanh nghiệp, tổ chức. Tuy nhiên để sử dụng và khai thác có hiệu quả mà không làm ảnh hưởng đến môi trường sống, tác động tiêu cực cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa. Cơ quan nhà nước cần nắm vai trò chỉ đạo trong quản lý điều hành, kiểm tra, hướng dẫn, giám sát các hoạt động du lịch, kinh doanh dịch vụ, đảm bảo trật tự an ninh, an toàn cho người tham gia các hoạt động du lịch và du khách….

10.2. Về công tác quy hoạch: 

Việc quy hoạch di tích lịch sử Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác là nhiệm vụ cần thiết.

* Quy hoạch đất đai: Để quy hoạch và sử dụng đất đai một cách hợp lý nhằm khai thác có hiệu quả giá trị di tích cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Mời các cơ quan khoa học, cơ quan quản lý chuyên ngành có liên quan bao gồm: tài nguyên môi trường, địa chất, sinh vật, thủy văn, văn hóa, lịch sử… khảo sát đánh giá thực trạng tiềm năng, giá trị tài nguyên.

- Tiến hành khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích, quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch, bảo tồn thiên nhiên và di sản.

- Thiết lập bản đồ quy hoạch đầu tư mở và nối liền tuyến tham quan kết nối Đảo Khỉ Cần Giờ với di tích Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác tạo nên tuyến tham quan sinh thái, văn hóa, lịch sử liên hoàn.

 

* Quy hoạch dự án phục hồi các hạng mục di tích, trồng rừng, bảo vệ tài nguyên, hệ sinh thái:

- Khảo sát, quy hoạch lại dự án phục hồi di tích. Khoanh vùng hệ thống khu vực 1, khu vực 2 di tích và khôi phục lại nguyên trạng hệ thống căn cứ Sở Chỉ huy.

- Có kế hoạch phục dựng, tái hiện lại Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác tại khu vực Rừng Giống (xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai). Cụ thể:

+ Xây dựng, tái hiện lại hệ thống nhà làm việc của Sở Chỉ huy, nhà nghỉ của các đồng chí lãnh đạo, nhà hội họp, công binh xưởng...

+ Phục dựng, tái hiện lại cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu của Đặc khu Quân sự và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác...

+ Xây dựng Đền thờ tưởng niệm các liệt sĩ Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc cộng Rừng Sác.

+ Xây dựng hệ thống cầu đước đi lại giữa các điểm trong di tích...

+ Trưng bày giới thiệu các hiện vật kỷ niệm, các trận đánh tiêu biểu của cán bộ, chiến sĩ Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

- Xây dựng bến tàu đưa đón khách tham quan; đầu tư xây dựng một đội tàu du lịch.

- Xây dựng các khu nghỉ ngơi, cắm trại và một số công trình phục vụ khách tham quan và tổ chức các hoạt động về nguồn cho du khách.

- Có kế hoạch lâu dài về việc trồng và bảo vệ rừng, cấm chặt phá rừng và khai thác nguồn lợi của rừng một cách bừa bãi.

- Bảo vệ triệt để nguồn nước và phải bảo vệ tốt các con sông và hệ thống kênh rạch, chống ô nhiễm nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp nhằm bảo vệ bền vững hệ sinh thái.

- Cần xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn cấp thiết và lâu dài trong khu vực di tích như các loài chim, các loài cá, bò sát…

 

10.3. Đào tạo nguồn nhân lực:

Đối tượng tham gia quản lý nhà nước để bảo tồn và phát huy giá trị di tích và hoạt động du lịch tại di tích Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác bao gồm:

- Ủy ban nhân dân huyện Nhơn Trạch;

- Phòng Văn hóa Thông tin huyện Nhơn Trạch;

- Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện Nhơn Trạch;

- Ủy ban nhân dân xã Phước An;

- Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện Long Thành;

Để xây dựng và phát triển Di tích Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác trong hiện tại, bền vững trong tương lai, thu hút ngày càng đông du khách và phục vụ ngày càng tốt các nhu cầu của du khách, cần thiết phải khẩn trương quy hoạch một đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chuyên nghiệp.

Ngoài ra, sau khi di tích được xếp hạng, Bộ máy quản lý được thành lập, cần có kế hoạch cho đội ngũ này được đi học tập kinh nghiệm ở một số khu di tích - du lịch có quy mô lớn như: Địa đạo Củ Chi, Rừng Sác Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Xẻo quýt ở Đồng Tháp… 

10.4. Phát triển những sản phẩm du lịch đặc trưng:

Qua khảo sát, nghiên cứu nguồn tài nguyên tại khu vực di tích Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác cho thấy nơi đây có những sản phẩm du lịch đặc trưng, cần quan tâm phát triển sau:

- Cần tổ chức nuôi ong lấy mật, theo mô hình nuôi ong trong rừng đước vì sản phẩm ong mật ở đây có giá trị cao, hiện đang rất hiếm đang rất được du khách ưa chuộng. Nếu không tổ chức lại việc nuôi ong ở đây, có thể đàn ong bị diệt chủng bởi sự săn lùng của người dân địa phương, gây tổn hại đến nguồn tài nguyên quý giá này, gây cháy rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác.

- Quà lưu niệm: đề xuất cơ quan chủ quản, trước mắt nghiên cứu và đầu tư phát hành một số ấn phẩm văn hóa - quà lưu niệm sau: 

+ Các sản phẩm lưu niệm từ cây đước, mắm, bần và dừa nước - các loại cây đặc trưng ở khu di tích này.

+ Sách giới thiệu di tích Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

+ Phát hành bộ ảnh giới thiệu về di tích Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.

+ Xây dựng phim tài liệu, giới thiệu toàn bộ di tích và những hoạt động văn hóa, du lịch đặc trưng của di tích.

Việc phát triển các sản phẩm du lịch này, sẽ tạo cho khu du lịch những sắc màu đặc trưng, vừa khai thác tốt nguồn tài nguyên du lịch, vừa tạo được công ăn việc làm cho người dân điạ phương, không làm suy kiệt, ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch mà còn góp phần bảo tồn, phát triển làm đa dạng phong phú nguồn tài nguyên du lịch ở đây.

11. Kết luận:

Di tích Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác là một địa danh gắn liền với nhiều chứng tích lịch sử đã in sâu vào ký ức bao thế hệ cư dân Đồng Nai. Di tích trở thành biểu tượng thể hiện tinh thần yêu nước, đấu tranh bất khuất, anh dũng, kiên cường của quân và dân miền Đông trong công cuộc chống kẻ thù xâm lược.

Di tích chứa đựng nhiều giá trị to lớn về lịch sử cách mạng, giá trị sinh thái, có tiềm năng lớn để phát triển du lịch. Để quản lý đầu tư, khai thác có hiệu quả di tích này cần nghiên cứu một chiến lược phát triển tổng hợp và lâu dài. Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác cần được xem xét, công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia để có cơ sở pháp lý thực hiện các giải pháp bảo tồn, phát huy cao nhất giá trị của di sản này trong hiện tại và tương lai.

Với giá trị lịch sử quan trọng, Di tích Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đủ tiêu chí và xứng đáng được xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia. 

12. Các tư liệu bổ sung:

1. Biên Hòa - 300 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, 1998.

2. Chiến khu Rừng Sác, Lương Văn Nho, NXB Đồng Nai, năm 1983. 

3. Đặc Khu Rừng Sác, Hồ Sĩ Thành, Nhà xuất bản Trẻ, 2002.

4. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác Anh hùng, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2008.

5. Một thời Rừng Sác (tập 1), Lê Bá Ước, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, 2003.

6. Một thời Rừng Sác (tập 2), Lê Bá Ước, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, 2007.

7. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn ở Biên Hòa, NXB Tp.Hồ Chí Minh, 1994.

8. Thiếu tướng Lương Văn Nho - Từ nhân chứng đến người viết sử, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, 2010.

  1. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn ở Biên Hòa, NXB Tp.Hồ Chí Minh, 1994, Tr 108.
  2. Bộ Chỉ huy Quân sự Thành phố Hồ chí Minh, Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, NXB Quân đội Nhân dân, 2008, Tr 39.
  3. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Đại tá Lê Bá Ước - Nguyên Đoàn trưởng, Kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.
  4.  Lương Văn Nho, Chiến khu Rừng Sác, NXB Đồng Nai, 1983, Tr 88, 89, 90.
  5. Đại tá Lê Bá Ước - Nguyên Đoàn trưởng, Kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác.
  6. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 43.
  7. Đây là đơn vị thuộc binh chủng Đặc công được thành lập tại trường sĩ quan Hải quân Thủy Nguyên (Hải Phòng) chuyên về đánh đặc công nước, đánh tàu, đánh cầu kho tàng, đồn bót. Ngày 25 tháng 12 năm 1965, đơn vị được lệnh vào Nam chiến đấu với quân số 120 người. Khi đến Bộ Chỉ huy Miền còn 100 đồng chí, 45 đồng chí được điều về Đặc khu Rừng Sác.
  8. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr  83.
  9. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 83, 84.
  10. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 51, 52.
  11. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 53.
  12. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64.
  13. Địa điểm này nằm phía sau Nhà thờ Đức Bà ngày nay.
  14. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 68, 69, 70, 71, 72, 73.
  15. Tổng Chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam.
  16. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr  76.
  17. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr  80.
  18. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr  81, 82.
  19. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 84, 85, 86, 87.
  20. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 88, 89, 90.
  21. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 90, 91.
  22. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 155, 156, 157, 158, 159.
  23. Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, sđd, Tr 175, 176, 177, 178, 179, 180, 181, 182, 183, 184, 185, 186, 187, 188, 189, 190, 191, 192.
  24. Đây là một tên ác ôn khét tiếng ở Nhà Bè và Sài Gòn đã được thưởng ba huân chương “anh dũng bội tinh” của Ngụy và Huân chương của Hoa kỳ
  25. Người đã đột nhập kho Rạch Dừa năm 1972.
  26. Người đã chỉ huy đánh cầu Rạch Muối, Rạch Miếu, trên đường 15 (Sài Gòn, Nhà Bè).
  27. Gồm các đồng chí: Trịnh Xuân Bảng, Nguyễn Hồng Thế, Nguyễn Chất Xê, Trần Văn Dần, Hà Quang Vóc, Lương Văn Mướt.
  28. Thuộc Đoàn 84 và đội 702 thuộc Đoàn 962 của Miền.
  29.  Bộ Chỉ huy Quân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng, NXB Quân đội Nhân dân, 2008, Tr 40; Hồi ký Đại tá Lê Bá Ước - Nguyên Đoàn trưởng, Kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác
  30. Vùng này có địa hình sình lầy, mênh mông sông nước với hằng trăm sông lạch đan nhau chằng chịt như sông Lòng Tàu, sông Ba Gioi, sông Đồng Tranh; Rạch Tràm, Rạch Dừa, Rạch Chà Là và nhiều tắc nhỏ... chiếm tới 1/4 diện tích Rừng Sác.
Hoạt động
Thống kê truy cập

Hôm nay

3,441

Tổng lượt truy cập

489,856
Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử UBND xã Phước An

R1
R12
R3
R4
R5
R6
R7
R8
R9
R10
R11
R13
R14
Thông báo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây