Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - Sức mạnh của ý chí thống nhất đất nước và khát vọng hòa bình!

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỊA ĐẠO NHƠN TRẠCH

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỊA ĐẠO NHƠN TRẠCH

(Ấp 5, xã Phước An, tỉnh Đồng Nai)

PHẦN 1

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỊA ĐẠO NHƠN TRẠCH

1. Tên gọi

Nhân dân địa phương thường gọi là Địa đạo Phước An.

Địa đạo Nhơn Trạch, nguyên là căn cứ cơ quan huyện ủy Nhơn Trạch trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước kia thuộc xã Phước An, nay thuộc xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch nên nhân dân địa phương thường gọi là Địa đạo Phước An.

2. Địa điểm phân bố và đường đi đến

Di tích hiện nay thuộc xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Từ UBND huyện Nhơn Trạch theo Hương Lộ 25B đi đến hướng Tây khoảng 100m, rẽ trái vào Hương lộ 19b đi tiếp khoảng 2km là đến Di tích lịch sử địa đạo Nhơn Trạch.

Mọi phương tiện giao thông đường bộ đều đến di tích dễ dàng.

3.  Sự kiện nhân vật lịch sử 

a.  Vài nét về huyện Nhơn Trạch

Huyện Nhơn Trạch thuộc tỉnh Đồng Nai (trong đó có Rừng Sác) chính thức trở thành bộ phận của Tổ quốc Việt Nam từ mùa xuân năm Mậu Dần (1698), khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược thành lập huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (thuộc phủ Gia Định).

Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa, đến năm 1832 đổi thành tỉnh Biên Hòa. Vùng đất huyện Nhơn Trạch ngày nay là một bộ phận của huyện Long Thành thuộc phủ Phước Tuy.

Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) huyện Nhơn Trạch chiếm phần lớn Tổng Thành Tuy của huyện Long Thành. Căn cứ vào địa bạ triều Nguyễn (1936), địa bàn huyện Nhơn Trạch chiếm phần lớn trong hai tổng Thành Tuy Thượng và Thành Tuy Hạ.

Theo văn bản lưu trữ ở Tòa hành chánh tỉnh Biên Hòa năm 1923, huyện Nhơn Trạch bao gồm toàn bộ tổng Thành Tuy Hạ (11 làng) và một phần lớn tổng Thành Tuy Thượng. Như vậy, trước năm 1960, huyện Nhơn Trạch vẫn chưa có tên trên bản đồ địa chính tỉnh Đồng Nai.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vùng đất huyện Nhơn Trạch ngày nay thuộc huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa và có vài lần thuộc địa bàn tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn, của phân khu 4., Phân khu Bà Rịa.

Huyện Nhơn Trạch được ngụy quyền Sài Gòn lập theo nghị định số 858/NĐ ngày 09/09/1960 trên cơ sở tách một số xã của huyện Long Thành trước đó.

Do yêu cầu kháng chiến cuối năm 1960, tỉnh ủy Biên Hòa quyết định thành lập huyện Nhơn Trạch tách ra từ huyện Long Thành. Địa bàn huyện tương ứng với địa lý hành chánh do ngụy quyền Sài Gòn thành lập trước đó để lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967, Nhơn Trạch và Long Thành sát nhập thành huyện Long Thành thuộc tỉnh Bà Biên.

Từ tháng 10 năm 1967 đến tháng 5 năm 1971 là huyện thuộc Phân khu 4.

Từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 10 năm 1972 là huyện thuộc Phân khu Bà Rịa.

Từ tháng 10 năm 1972 đến tháng 12 năm 1975, Nhơn Trạch là một huyện thuộc tỉnh Biên Hòa.

Tháng 1 năm 1976 tỉnh Đồng Nai được thành lập, huyện Nhơn Trạch sát nhập cùng huyện Long Thành với tên gọi là huyện Long Thành.

Ngày 26/03/1994, Chính phủ ra Nghị định 51/CP thành lập huyện Nhơn Trạch gồm 12 xã : Phước Thiền, Phú Thạnh, Phước Khánh, Hiệp Phước, Phú Hội, Đại Phước, Vĩnh Thanh, Phú Hữu, Long Tân, Phước An, Long Thọ và Phú Đông.

Huyện Nhơn Trạch nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Đồng Nai, giáp ranh với các huyện Long Thành (Đồng Nai), Châu Thành (Bà Rịa – Vũng tàu), Quận 9 (Tp. Hồ Chí Minh). Huyện Nhơn Trạch có diện tích đất tự nhiên là 40.916 ha với 19.772 ha đất canh tác chủ yếu trồng lúa và hoa màu. Ngoài ra huyện còn có 3.500 ha đất dùng cho xây dựng cơ bản khu công nghiệp. Huyện Nhơn Trạch có 22.888 hộ dân với 104.897 người, mật độ 270 người/km2.

Hiện nay, Nhơn Trạch là một huyện nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam, có nhiều dự án trong nước và nước ngoài đầu tư. Trong tương lai không xa, huyện Nhơn Trạch sẽ đóng vai trò trung tâm chùm đô thị lớn của khu vực: Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Biên Hòa và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Huyện Nhơn Trạch là vùng đất anh hùng, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, huyện đã lập được nhiều chiến công hiển hách:

- Kháng chiến chống Pháp: Quân và dân huyện Nhơn Trạch đã chiến đấu hơn 900 trận lớn nhỏ, tiêu diệt hàng ngàn tên địch, trong đó có 427 tên lính Pháp, 103 tên tay sai ác ôn của giặc.

- Kháng chiến chống Mỹ: Quân và dân huyện Nhơn Trạch đã chiến đấu hơn 1.023 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 2.405 tên giặc, trong đó có 423 tên Mỹ và lính chư hầu Thái Lan. Bốn lần phá kho Thành Tuy Hạ, phá hủy 85% số lượng bom đạn địch ở đây.

Với những chiến công trên, huyện Nhơn Trạch đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quí:

* Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho (đơn vị, tập thể):

- Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Nhơn Trạch (tuyên dương ngày 29/11/1996).

- Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phước An (tuyên dương ngày 6/11/1978).

- Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phú Hội (tuyên dương ngày 6/11/1978).

- Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phú Hữu (tuyên dương ngày 20/12/1994).

- Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Long Thọ (tuyên dương ngày 29/01/1996).

* Anh hùng lực lượng vũ trang (cá nhân):

- Nguyễn Quyết Chiến, quê xã Phú Hữu (tuyên dương ngày 20/12/1969).

- Dương Văn Thì (đã mất), quê xã Phú Hữu (tuyên dương ngày 06/11/1978).

- Nguyễn Văn Quang (đã mất), quê xã Hiệp Phước (tuyên dương ngày 17/09/1967).

b. Vị trí chiến lược của xã Phước An

Phước An là một vùng đất ở phía Nam huyện nằm dọc theo tỉnh lộ 19 trên chiều dài hơn 13km, diện tích tự nhiên 10.997 hécta. Nhân dân Phước An chủ yếu sống nghề ruộng, rẫy và chài lưới.

Phước An nằm về phía Đông – Nam Sài Gòn nơi có những căn cứ quân sự của Mỹ như: Kho đạn Thành Tuy Hạ, sân bay Cát Lái, sông Lòng Tàu là con đường thủy huyết mạch đế quốc Mỹ dùng để vận chuyển phương tiện chiến tranh xâm lược vào Sài Gòn.

Phía Bắc Phước An là khu rừng Giồng rậm rạp thuộc huyện Long Thành nối liền với dải rừng Lòng chảo hàng chục ngàn hécta, vượt quốc lộ 51 về Hắc Dịch. Từ đây có thể nối với các căn cứ Chiến khu Đ và Xuyên - Phước – Cơ.

Phía Nam Phước An là rừng Sác bao la với những con rạch, tắc chằng chịt ra sông Lòng Tàu, Thị Vải về Nhà Bè, Sài Gòn, Gò Công, Bến Tre hay ngược lên Vũng Tàu.

Do tính chất chiến lược của vùng đất này nên Huyện ủy Nhơn Trạch đã chọn Phước An làm căn cứ trong hai kỳ kháng chiến: Chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

c. Chiến khu Phước An trong kháng chiến chống Pháp

“… Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, Phước An đã trở thành một căn cứ chủ yếu của lực lượng võ trang Bình Xuyên và tiếp đó là nơi trú quân của rất nhiều đơn vị cơ động của tỉnh, của Khu như: Liên quân Hoàng Thọ, Chi đội 7, Chi đội 6, bộ đội Sài Gòn - Chợ Lớn … Đồng thời là bàn đạp cho các lực lượng đó tác chiến nhiều nơi trong huyện, tỉnh và vùng ven Đông – Nam Sài Gòn khi giặc Pháp chiếm đóng Long Thành”.

Tại chiến khu Phước An trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã diễn ra một số sự kiện lịch sử quan trọng: Ngày 05/05/1947 Huyện ủy đầu tiên do tỉnh chỉ định đã được thành lập, Bí thư là đ/c Vũ Hồng (tức Phô).

- Lễ kỷ niệm ngày mùng 2/9/1947 tại Phước An là cuộc lễ lớn nhất trong 9 năm kháng chiến chống Pháp ở Long Thành – Nhơn Trạch.

- Cuối năm 1947 dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Phước An đã đánh tan một tiểu đoàn của địch càn vào rừng Sác (căn cứ địa cách mạng). Cũng trong năm này Huyện ủy đã chỉ đạo một số phong trào nhằm tấn công địch bảo vệ lực lượng cách mạng, bảo vệ chiến khu Phước An như:

Phong trào toàn dân tham gia: “Cắm cọc chóng Tây nhảy dù” ở nhiều cánh đồng rộng lớn thuộc chiến khu Phước An như : Đồng Mương Điều, Đồng Bà Bông, Đồng Xóm Ngọc và Đồng Vũng Gấm.

“Phong trào rào căn cứ” … Những phong trào trên đã góp phần đánh địch có hiệu qủa và từng bước bám trụ bảo tồn lực lượng ta.

Ca ngợi phong trào trên, nhân dân trong huyện còn lưu truyền những vần thơ:

“Sáng trăng sáng cả chiến hào

Sáng ra đồng ruộng sáng vào chiến khu

Nhân dân cắm cọc chống dù

Giặc Pháp đụng cọc chổng khu la làng”.

“Đốn cây cắm cọc ngăn tàu

Dòng sông Vũng Gấm, Bà Hào, Phước An

Làm cho quân giặc hoang mang

Không cho khủng bố ruồng càn chiến khu”.

- Tháng 01/1948, tại chiến khu Phước An có một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng đánh dấu bước phát triển mới cho cách mạng Long Thành là: Đại hội Đảng bộ Huyện lần đầu tiên tổ chức. Huyện ủy do bầu cử chính thức ra đời. Đ/c Vũ Hồng (tức Phô) được bầu làm Bí thư Huyện ủy.

- Trong chín năm kháng Pháp tại địa bàn Phước An có đoàn cán bộ của Khu, của Trung ương như đ/c: Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Lưu Quí Kỳ … đi công tác qua địa bàn đã được lực lượng võ trang huyện Long Thành bảo vệ an toàn. Toàn bộ các cơ quan đầu não của huyện đều tập trung tại Phước An. Một số cơ quan của Sài Gòn – Gia Định cũng đóng ở Phước An. Phước An thực sự trở thành “Thủ đô của Long Thành kháng chiến”.

d.  Địa đạo Nhơn Trạch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

* Sự hình thành địa đạo Nhơn Trạch 

Cuối năm 1960 đầu năm 1961, tỉnh Biên Hòa quyết định tách Long Thành làm 2 huyện : huyện Long Thành và Nhơn Trạch, đ/c Võ Văn Lượng (Tư Định) làm Bí thư huyện Nhơn Trạch, đ/c Vũ Hồng Phô (Sáu Khánh) làm Bí thư huyện Long Thành. Tháng 07/1962, đ/c Tư Định được rút về tỉnh, đ/c Nguyễn văn Thông (Hai Thông) thay làm Bí thư huyện Nhơn Trạch.

Đầu tháng 02/1963 trong cuộc họp của Ban Thường vụ Huyện ủy Nhơn Trạch gồm 5 đ/c (Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Văn Liêm, Phạm Minh Chính, Nguyễn Văn Sơn và Trần Văn Nhiệm) sau khi đanh giá tình hình của địch và ta. Ban Thường vụ nhận định:

Cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt, địch lấy xã Phước An làm điểm gom dân lập ấp chiến lược, nhằm đánh phá cơ sở cách mạng đẩy lực lượng cách mạng ra xa. Song song với việc gom dân lập ấp chiến lược. Mỹ - Ngụy tiến hành cuộc chiến tranh hủy diệt dã man. Chúng dùng bom xăng, rải chất hóa học để hủy diệt địa hình nhất là khu vực rừng Lòng Chảo để quân ta không còn chỗ trú quân, không thể dựa vào dân mà chiến đấu. Địch đánh phá căn cứ huyện ác liệt, nhất là ở khu vực khu trù mật (Hanh nai) rừng Lòng Chảo.

Cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt, để giữ vững và đưa phong trào cách mạng trong huyện tiến lên, góp phần làm thất bại các âm mưu chiến lược của địch, trước mắt phải quyết tâm phá quốc sách ấp chiến lược của địch trên địa bàn huyện. Trên cơ sở nhận định tình hình, Ban Thường vụ Huyện ủy Nhơn Trạch chủ trương.

- Tất cả các cơ quan, đơn vị từ huyện đến xã không được thoát ly địa bàn mình phụ trách, tiến hành đồng loạt xây dựng ô, ụ chiến đấu, gắn với từng bước xây dựng địa đạo, phải dành lấy dân thì mới chiến thắng được quân thù. Thực hiện khẩu hiệu: “Lôi địch vào rừng để tiêu diệt”. “Một tấc không đi, một ly không dời”.

Từ kinh nghiệm xây dựng, đào các hầm bí mật để cán bộ giấu mình hoạt động, nhưng có nhược điểm khi bị phát hiện dễ bị địch bao vây bắt và tiêu diệt, Huyện ủy Nhơn Trạch học tập Củ Chi phát triển từ hầm bí mật thành địa đạo trong lòng đất để vừa trú ẩn, vừa đánh địch và khi cần sẽ thoát khỏi chỗ nguy hiểm đến một nơi khác an toàn. Nguyên nhân đào địa đạo Nhơn Trạch ra đời như thế đó.

Hội nghị Ban Thường vụ Huyện ủy quyết định : Trong bất cứ tình huống nào, Đảng bộ và lực lượng võ trang huyện phải bám được khu rừng Lòng Chảo để lãnh đạo nhân dân đến ngày toàn thắng. Thường vụ Huyện ủy Nhơn Trạch họp bàn việc chọn địa thế, vùng đất thích hợp và thuận lợi để tiến hành đào địa đạo, cuối cùng đi đến thống nhất chọn địa điểm có tọa độ 106056’25” vĩ tuyến Đông và 10010’45” vĩ tuyến Bắc thuộc thửa (ô) (82-81) và (12-13) trên bản đồ địa chính huyện Nhơn Trạch. Lý do chọn tạo độ trên là vì: Đây là vùng có nhiều tre rừng lẫn với nhiều cây lớn. Tre là thế tốt cho ta, nhưng lại bất lợi cho địch khi tác chiến, rễ tre đan bện với nhau dưới mặt đất, pháo bom của địch khó phá được sâu, địa đạo ít bị sạt lở, dễ làm lỗ thông hơi và ngách bí mật. Vùng có nhiều cây cao, máy bay địch khó phát hiện được ta. Hơn nữa chọn tạo độ trên thì Huyện ủy sẽ ở gần với căn cứ Huyện đội và xã điểm Phước An. Dự tính đào đường địa đạo từ thửa (ô) (82-81) và (12-13) thuộc khu Hang Nai - rừng Lòng Chảo đào qua Ban Chỉ huy Huyện đội. Từ Huyện ủy đào xuống các xã: Phước An, Phước Thiền, Phước Thọ, Phú Hội … Từ xã này đào thông qua xã kia tạo thành một hệ thống đường địa đạo liên hoàn khép kín trong lòng đất. Ban Thường vụ Huyện ủy Nhơn Trạch họp bàn đi đến quyết định giao đ/c Nguyễn Văn Thông chịu trách nhiệm nghiên cứu, chuẩn bị và triển khai việc đào địa đạo.

Sau khi đi học tập việc đào địa đạo ở Củ Chi về, bước đầu đ/c Hai Thông cùng với đ/c Hoàng và đ/c Thanh là cán bộ của tỉnh có kinh nghiệm đào hầm bí mật, xây dựng ô, ụ chiến đấu ở Phước An thời kỳ chống Pháp hướng dẫn cho tám đồng chí thuộc đội bảo vệ huyện ủy và cán bộ Văn phòng huyện ủy gồm:

1. Đ/c Nguyễn Văn Tâm: Đội trưởng.

2. Đ/c Phan Văn Trường.

3. Đ/c Lê Văn Hiếu.

4. Đ/c Tư Bình.

5. Đ/c Sáu Hồng.

6. Đ/c Kết.

7. Đ/c Chơn.

8. Đ/c Tài.

Sau một thời gian ngắn bổ sung thêm :

Đ/c Nguyễn Văn Nhân (Nhân lớn).

Đ/c Quyết.

Đ/c Nhân (Nhân nhỏ).

Đ/c Nguyễn Văn Ú.

Đ/c Tuyết Nhung.

Đ/c Dương Thị …. (Sáu Điếc).

Địa đạo được khởi công đúng vào ngày 19/05/1963 là ngày kỷ niệm sinh nhật Bác. Đội đào địa đạo chia làm 2 tổ thay phiên nhau đào vào ban đêm. Mọi người lấy dây leo rừng đan thành ki và dùng cuốc, xẻng để xúc đất. Ban ngày mọi người vẫn đi công tác bình thường đến đêm mới tiến hành đào. Đất moi lên đem rải đều trên mặt đất ở xung quanh, sau đó đánh những vồng cỏ lớn ở nơi khác về trồng lên, hoặc lấy lá khô (lá cây rừng) phủ lên trên để xóa mọi dấu vết. Mọt đêm đội đào trung bình từ 10 mét đến 15 mét đường địa đạo. Huyện ủy tổ chức nhiều hình thức thi đua động viên anh em đẩy nhanh tiến độ đào. Trong thời gian từ tháng 05/1963 đến cuối năm 1964 vừa làm nhiệm vụ canh phòng bọn biệt kích thám báo vào khu căn cứ, vừa chiến đấu vừa vận chuyển lương thực, đội đã đào được 1,5kilômét đường địa đạo có nhiều ngõ, ngách và hầm bí mật. Địa đạo có khả năng chứa được từ 500 đến 700 người. Từ cuối năm 1964 trở đi việc đào địa đạo tạm ngưng để làm lán trại cho cơ quan Huyện ủy làm việc trên mặt đất gần miệng địa đạo.

Đầu năm 1964, cơ quan huyện ủy Nhơn Trạch chính thức chuyển từ Chiến khu Phước An về làm việc trong địa đạo Nhơn Trạch.

* Những trận đánh tiêu biểu diễn ra tại Địa đạo Nhơn Trạch:

“… Tỉnh ủy Biên Hòa bám trụ khu vực Lòng Chảo – Nhơn Trạch hình thành xã chiến đấu bằng ô, ụ, địa đạo ở Phước An, Phú Hội … Ngày 01/7/1965, 02 đại đội bảo an có 04 cố vấn Mỹ càn vào khu Lòng Chảo thuộc xã Phước An. Đội du kích Phước An bám trụ chiến đấu, vận động dưới địa đạo đánh bại nhiều “đợt xung phong” của địch. Chúng dùng máy bay ném bom, bắn pháo dữ dội, nhưng vẫn không đánh bật được đội du kích. Sáng ngày 03/07/1965, chúng buộc phải rút lui với 67 tên bị diệt, 30 tên bị thương, trong đó có 04 cố vấn Mỹ chết và bị thương …” 

… Đầu tháng 12-1965 mặc dù Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra thông báo tạm ngưng tiếng súng để nhân dân ăn tết cổ truyền và để mọi gia đình được đoàn tụ được địch chấp thuận, nhưng ngày 17-12-1965, một đại đội biệt động ngụy từ Phú Hội cắt ngang qua khu rừng Lòng Chảo về hướng Phước An với mục đích đánh giá cơ sở cách mạng gây khó khăn cho nhân dân ăn tết. Bộ phận tiền tiêu của địch vô tình đi cắt ngang qua căn cứ Huyện ủy phát hiện thấy hệ thống hàng rào kẽm, làn trại, giao thông hào, ụ chiến đấu … kiên cố nằm ẩn mình dưới những tán cây cổ thụ và dây leo rậm rạp, ta cũng kịp thời phát hiện được địch, tất cả đội bảo vệ cơ quan Huyện ủy và một số cán bộ nhân viên cơ quan nhanh chóng triển khai ra các ộ ụ chiến đấu. Bộ phận không có nhiệm vụ chiến đấu mang theo tài liệu và phương tiện làm việc gấp rút xuống địa đạo trú ẩn.

Một tổ gồm 03 tên địch tiến đến mở cổng rào vào căn cứ liền bị đ/c Phạm Văn Minh (cận vệ đ/c Nguyễn Văn Thông) bắn một phát. Bọn địch sợ hãi bèn rút lui về không dám bắn trả một phát súng nào.

Về phía ta, sau khi biết địch đã phát hiện ra khu căn cứ, Ban Thường trực Huyện ủy họp và nhận định: “Địch phát hiện rõ căn cứ của ta nhưng chúng không dám giao chiến, có khả năng chúng sẽ báo cho Mỹ. Theo qui luật, nếu Mỹ đánh thì chúng thường đánh sau tết Nguyên Đán, vì nhiều lần trước Mỹ đánh một số căn cứ của huyện cũng vào sau tết Nguyên Đán”.

Mặc dù nhận định tình hình như vậy, nhưng ngay sáng hôm sau (18-12-1965) lực lượng đào địa đạo và lực lượng bảo vệ cơ quan huyện ủy, tiến hành nạo vét lại đường địa đạo, đắp miệng làm lỗ châu mai, củng cố lại giao thông hào, ụ chiến đấu. Vũ khí gồm 01 súng đại liên, khoảng 20 trái B40, 02 khẩu Tôm-xông (Thomson), 18 súng trường (K44), cac-bin (Carbin) và bá đỏ, 25 trái mìn tự tạo, mìn mo, 105, DH8, DH10, với gần 100 lựu đạn và nhiều đạn dược … tất cả được đem ra kiểm tra, lau chùi cẩn thận sẵn sàng chiến đấu khi quân địch tới. Đồng chí Nguyễn Chính Nghĩa – Chánh văn phòng Huyện ủy cử mọi người vừa thay nhau trực chiến vừa về các cơ sở cách mạng nhà Má Một, Má Hai ở ấp Xóm Hố - Phú Hội, Má Năm, Má Bốn ở Xóm Vườn - ấp Phú Mỹ để ăn tết và vận chuyển lương thực, đạn dược, vũ khí vào địa đạo.

Đến ngày mùng 6 tết Nguyên Đán năm 1966 (26/01/1966) đ/c Nguyễn Chính Nghĩa đang trực ở địa đạo đã viết thư tay đưa nhân viên bảo vệ chuyển qua lực lượng bảo vệ Huyện ủy xin thêm lực lượng, nhưng huyện chỉ tăng cường thêm cho 03 đồng chí. Cùng với lực lượng hiện có tại địa đạo như :

1. Đ/c Nguyễn Chính Nghĩa – Chánh Văn phòng Huyện ủy.

2. Đ/c Nguyễn Văn Tâm (mười Tâm) : Đội trưởng đội bảo vệ cơ quan Huyện ủy.

3. Đ/c Xuân Trường (Hiệp Phước).

4. Đ/c Nguyễn Văn Công.

5. Đ/c Bảy Ú (Phú Hội)

6. Đ/c Mên.

7. Đ/c Nhân Lớn (Phú Hữu).

8. Đ/c Nhân Nhỏ.

9. Đ/c Ân (Phước Khánh).

10. Đ/c Hiệp.

11. Đ/c Ẩn.

12. Đ/c Ngọc Minh.

13. Đ/c Thái.

14. Đ/c Nguyễn Văn Phước (Phước An).

15. Đ/c Nguyễn Văn Hạnh (Phước An).

16. Đ/c Trần Văn Vân (Phú Hội).

17. Đ/c Trần Văn Hạnh (Phước An).

và một số đồng chí khác. Tất cả khoảng 20 tay súng sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu.

Đúng như nhận định của ta, mới 6 giờ sáng ngày mùng 7 tết, tức là ngày 27/01/1966 toàn bộ khu rừng Lòng Chảo đang yên tĩnh bỗng vang lên tiếng động cơ của địch. Lữ đoàn 199 thủy quân lục chiến Mỹ từ Phú Xuân – Nhà Bè được điều về Long Thành – Nhơn Trạch, đổ quân bằng trực thăng xuống khu Bàu Điều - rừng Lòng Chảo cách căn cứ (địa đạo) của ta khoảng 1.5km. Hàng trăm xe tăng, thiết giáp từ quận lỵ Long Thành theo tỉnh lộ 17 và 19, rẽ sang đường ủi Phước Lai, tỏa ra hướng Bà Bông – Vũng Gấm cách khu căn cứ Huyện ủy chưa đầy 2km. Một chi đoàn cơ giới Mỹ từ lộ 19 vận động xuống xã Phước Thọ cách khu căn cứ khoảng 3km. Hai chiến đàm già (L19) và 02 chiếc trực thăng HU1A bay nhiều vòng trên khu rừng Lòng Chảo để thị uy và quan sát chỗ đổ quân. Một lữ đoàn pháo binh Mỹ đóng ở đình Long Thuận thuộc ấp Bà Ký xã Long Phước cách căn cứ (địa đạo) khoảng 10km. Cùng lúc có hàng trăm trực thăng đổ quân rải từ Sở Ngựa đến ấp Bà Bông để tràn vào khu Hang Nai. Từ ba mặt khép lại, không đầy 45 phút, toàn bộ căn cứ cơ quan Huyện ủy Nhơn Trạch ở Hanh Nai đã nằm trọn trong vòng vây của giặc.

Trận càn của địch bắt đầu, 21 khẩu pháo đặt ở đình Long Thuận cùng lúc bắn cấp tập vào khu Hang Nai và một số khu vực trong vùng Lòng Chảo. Tiếng pháo vừa ngớt thì hàng chục máy bay F5, khu trục cơ mỗi lượt là 6 chiếc thay phiên nhau rải bom bi và bom dù (bom phá). Cả khu rừng Lòng Chảo khói lửa mịt mù, rừng cây nghiêng ngả, vừa im tiếng bom có khoảng 60 chiếc trực thăng bay đến đổ quân. Ngày đầu 27/01/1966 từ 6 giờ sáng đến 10 giờ trưa, lữ đoàn 199 thủy quân lục chiến Mỹ chia làm 9 mũi, mỗi mũi từ 10 – 12 tên lính trang bị vũ khí hiện đại từng đợt đồng loạt đánh vào mặt hướng Đông của giao thông hào. Dựa vào địa đạo các chiến sĩ của ta bình tĩnh chờ địch đến thật gần mới bắn. Cùng một lúc ta cho nổ 8 trái DH làm 2 xe tăng địch bị bốc cháy tại chỗ, một chiếc đâm vào gốc cây lớn lật nghiêng. Một tên lính Mỹ da đen bò đến gần giao thôn hào dùng kìm cộng lực cắt hàng rào kẽm gai để mở lối vào địa đạo bị hạ gục tại chỗ, nhiều tên lính khác cũng phải bỏ mạng trong đợt càn đầu tiên.

Đợt ra quân đầu tiên bị thất bại, địch tập trung hỏa lực bắn như điên về phía căn cứ, chúng gọi pháo yểm trợ, gọi máy bay đến cắt bom, các chiến sĩ của ta bình tĩnh rút xuống địa đạo nghỉ ngơi lấy sức để chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới.

Khoảng 11 giờ trưa ngày 27/01/1966, một đoàn trực thăng loại trinh sát và loại phóng hỏa tiễn bay đến rà sát khu rừng Lòng Chảo. Chúng bay rất thấp chỉ cách mặt đất khoảng 20 mét. Gần 20 khẩu súng của ta đồng loạt bắn làm hai chiếc bị bốc cháy. Một chiếc rơi ở Chuông Ba Sọ, một chiếc rơi ở khu đồng Mu Rùa (thuộc xã Phước An). Suốt ngày mùng 7 tết gần 10 lần lính Mỹ phản kích nhưng không vào được khu Hang Nai.

Sáng ngày mùng 8, mùng 9 tết địch đổ thêm quân, tăng cường hỏa lực, tổ chức nhiều đợt tấn công nhưng vẫn không vào được khu căn cứ của ta.

Trận càn bước sang ngày thứ bảy (ngày mùng 02/02/1966) địch tấn công lần cuối cùng vào khu căn cứ. Chúng cho bắn vào hơn 3000 trái pháo, sau đó máy bay đến dội bom hết đợt này đến đợt khác, một trái bom có trọng lượng 500 kg rơi và nổ sát cạnh đường xương sống địa đạo ở đoạn 2 (xem sơ đồ bản vẽ) làm 5 đ/c của ta đang ở dưới địa đạo bị hy sinh.

1. Đ/c Trần Văn Dũng:             Phó Ban An ninh Huyện.

2. Đ/c Nguyễn Minh Đức:          Phó Ban Binh vận Huyện.

3. Đ/c Trà Thị Ánh Nguyệt:      Ủy viên BCH Huyện đoàn Nhơn Trạch.

4. Đ/c Nữ Kiều Phương:            Nhân viên văn phòng.

5. Đ/c Thái Thị Bé:                             Nhân viên văn phòng.

Sau trận càn này, lực lượng chiến đấu của ta cùng với cơ quan Huyện ủy Nhơn Trạch tạm thời rút về rừng Sác.

Kết qủa trận càn một tuần (27/01/1966 đến 02/02/1966) của quân Mỹ vào địa đạo Nhơn Trạch như sau: “167 tên xâm lược Mỹ chết, nhiều tên bị thương, 6 trực thăng bị bắn rơi, 5 xe tăng bị bốc cháy. Địch chỉ phá được một số ộ ụ, giao thông hào ở phía bên ngoài và một số ấp xung quanh. Khu căn cứ Hang Nai vẫn tồn tại, hiên ngang và tự hào”. 

… Đầu tháng 10 năm 1966 Thường vụ Trung ương Cục (TV-TWC) chủ trương sát nhập 3 tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa lấy tên là tỉnh Bà – Biên., đ/c Lê Đình Nhơn (Chín Lê) được cử làm Bí thư tỉnh ủy. Huyện Long Thành, Nhơn Trạch cũng được sát nhập lại gọi là huyện Long Thành như cũ, đ/c Nguyễn Văn Thông được cử làm Bí thư. Địa đạo Nhơn Trạch tiếp tục được củng cố làm căn cứ địa cách mạng, nơi làm việc của cơ quan Huyện ủy Long Thành.

* Địa đạo Nhơn Trạch nơi Huyện ủy đứng chân chỉ đạo tấn công địch cho đến ngày 30/04/1975

Mặc dù cuộc chiến diễn ra ngày càng quyết liệt trên chiến trường Nhơn Trạch, nhất là khu vực rừng Lòng Chảo và vùng rừng Sác, nhưng huyện ủy và các lực lượng võ trang vẫn bám trụ chỉ đạo tấn công và nổi dậy quân dân Long Thành, Nhơn Trạch đã liên tục đánh địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề, đã góp phần xứng đáng cùng toàn miền đẩy ngụy lao nhanh đến sụp đổ. 

Trong cuộc chiến đấu gian lao, ác liệt Đảng bộ Nhơn Trạch thường nói vui: “Lòng Chảo còn, Sài Gòn nát”. Kẻ thù tìm mọi cách phá rừng Lòng Chảo nhằm đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi vùng này, nếu ta thấy khó khăn bỏ đi nơi khác là rơi vào âm mưu của địch. Vì vậy bất kỳ tình huống nào Đảng bộ Nhơn Trạch quyết xử lý linh hoạt, bám địa đạo Nhơn Trạch. Nếu cây rừng bị địch dùng xe tăng ủi, bom phá, bom xăng đốt thì ta khoét đất để ở, bám dân mà sống.

Trước quyết tâm “một tấc không đi, một ly không rời” của Đảng bộ và nhân dân Nhơn Trạch, 7 giờ 30 phút ngày 14/07/1969 Mỹ cho nhiều tốp máy bay cần cẩu đổ 45 xe tăng và xe ủi bao vây các hướng của thửa (ô) (82-81) và (12-13) nơi có địa đạo Nhơn Trạch và từ hướng quốc lộ (15) 51, địch dùng xe ủi “T52 chạy cắt ngang qua Phước Thọ lên rừng Lòng Chảo. Trong suốt một tuần từ 14 đến 20-1-1969 tất cả các lực lượng, các cơ quan của Huyện đều bám trụ đánh địch quyết liệt. Điển hình có đồng chí Phạm Minh Hiếu – cán bộ Mặt trận tự chế tạo mín đánh cháy 02 xe tăng Mỹ. Kết qủa trận này được tổng kết: 20 chiếc xe tăng địch bị bắn cháy, hàng trăm tên lính bị diệt là chựng tốc độ ủi phá của chúng …”

Thất bại nhưng địch chưa từ bỏ dã tâm ủi phá rừng Lòng Chảo. Địch tiếp tục mở nhiều đợt ủi phá dài ngày từ ngày 21-2 đến 23-3-1970, chúng nhắm thực hiện kế hoạch “lột da” khu Lòng Chảo.

… “6 giờ sáng ngày 21/02/1970 địch cho nhiều tốp máy bay trực thăng chiến đấu bắn dọn bãi. Hơn 200 lượt trực thăng cần cẩu lên xuống không ngớt. Cả rừng Lòng Chảo sôi lên trong tiếng gầm rú của hơn 250 xe tăng, xe ủi, tiếng động cơ máy bay, bom, pháo liên hồi, tiếng mìn, súng nổ loạn xạ nhiều hướng …

Ngày 23/03/1970, kế hoạch ủi phá Lòng Chảo của địch chấm dứt. Mặc dù rừng Lòng Chảo bị cày xới, tàn phá năng nề nhưng kẻ địch phải trả một giá rất đắt: 43 xe tăng, xe ủi bị diệt, gần 20 máy bay bị bắn rơi, hàng trăm tên giặc Mỹ phải bỏ xác và bị chôn vùi trong lòng đất nóng bỏng này”.

Mùa mưa năm 1972. Mỹ, Thái Lan và quân ngụy tiếp tục mở các cuộc càn quét vào khu Lòng Chảo. Toàn bộ lực lượng của huyện Nhơn Trạch và Đoàn 10 rừng sác … tất cả có hơn 500 cán bộ, chiến sĩ bám trụ dài ngày trong địa đạo Nhơn Trạch, ban đêm từ địa đạo bung lên đánh địch. Địa đạo là nơi xuất phát đánh địch ở hướng đông sông Lòng Tàu, kho đạn Thành Tuy Hạ … của trung đoàn 10 Đặc công rừng Sác. Một số chiến sĩ đoàn 10 bị thương vong được đưa xuống địa đạo, thậm chí tạm chôn cất các đồng chí bị hy sinh dưới địa đạo (theo lời kể của đồng chí Lê Bá Ước - chỉ huy trưởng đoàn 10 rừng Sác).

Tóm lại: Địa đạo Nhơn Trạch – nơi bám trụ vững chắc nhất của Huyện ủy Nhơn Trạch và nhiều cơ quan tỉnh, huyện, Đoàn 10 Rừng sác chỉ đạo tấn công địch trước và sau Hiệp định Paris cho đến 30/4/1975 – ngày thống nhất đất nước.

* Kết qủa khảo sát điền dã thực địa:

Nằm ngay mặt tiền khu tượng đài tưởng niệm bên dưới lòng đất ở độ sâu 5m đến 7m (tùy địa hình) là hệ thống địa đạo huyện Nhơn Trạch chạy dài theo hướng Tây – Nam, có tổng chiều dài 194m. Địa đạo gồm ba đoạn gấp khúc được bố trí theo dạng gần giống chữ chi (Z) (chiều dài mỗi đoạn như sau: đoạn EF dài 115m; đoạn CD dài 56m; và đoạn AB dài 23m). Mặt khác chính những đoạn gấp khúc có dạng gần giống chữ chi (Z) sẽ tạo ra diện tích rộng trên mặt đất tạo ra các lỗ thông hơi để gió bất kỳ hướng nào cũng thổi luồn xuống địa đạo được dễ dàng, làm cho địa đạo luôn được thoáng mát.

Từ đoạn EF sang đoạn CD (theo hình vẽ) phải qua một ngăn bí mật (có nắp dậy kín). Dộ dày của ngăn là 1m, ở giữa vách ngăn được khoét một lỗ tròn có đường kính vừa đủ một người chui qua với mục đích hạn chế sự thiệt hại; khi địch phát hiện tấn công vào địa đạo thì chỉ việc lấp lại lỗ ở vách ngăn bí mật, qua ngách địa đạo khác tiếp tục tổ chức chiến đấu và bảo toàn lực lượng.

Địa đạo có kích thước dao động: cao từ 1m80 đến 2m00 (tính từ vòm đến đáy); ngang từ 1m00 đến 1m20. Đây là khoảng cách rất phù hợp cho sự di chuyển đối với người Việt Nam.

Nóc địa đạo có cấu trúc hình vòm “∩ ” cấu trúc này tạo sự vững chắc cho địa đạo, giảm bớt khả năng sụp lún của đất. Độ dày của nóc dao động từ 3m đến 5m tùy địa hình trên mặt đất và được chống đỡ bằng những cây rừng rắn chắc xếp ngang qua đường xương sống địa đạo. Chính độ dày của đất nóc cùng với những cây rừng già bện chặt xếp ngang chống đỡ, đã hạn chế sức công phá của bom 250kg địch mén xuống, địa đạo vẫn không bị sụp lún.

Tại điểm chính giữa trong mỗi đoạn địa đạo có một ngách lên mặt đất. Nhưng chỉ đào cách mặt đất khoảng 20cm. Tại đây được bố trí hai lỗ thông hơi song song có hình phễu úp.

Từ đường xương sống có rất nhiều ngách rẽ sang hai bên trái và phải. Song các ngách này hiện nay đều bị sụp lún, bít.

Ở hướng Nam (theo bản vẽ) địa đạo chỉ còn một số đoạn xương sống rất ngắn có thể chui vào được, còn hầu hết đã bị sụp lún chỉ còn lại dấu vết một số miệng và lỗ thông hơi.

* Kết qủa điều tra hồi cố các nhân chứng lịch sử:

Qua hồi cố của các nhân chứng như đồng chí Nguyễn Văn Thông – Nguyên Bí thư Huyện ủy Nhơn Trạch, người trực tiếp vạch ra phương án, thiết kế bản vẽ; chỉ đạo tiến hành đào địa đạo; các đồng chí Chín Nghĩa – nguyên Chánh văn phòng huyện ủy, Mưới Tâm - Đội trưởng và các đồng chí tham gia đào, chiến đấu: Phạm Văn Trường, Võ Văn Công, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn Canh, Hai Liễu, Kim Anh … thì địa đạo được bố trí và có cấu trúc như sau :

Sau khi quán triệt chủ trương của Ban Thường vụ Huyện ủy: “… Xây dựng địa đạo vừa là nơi làm việc của văn phòng huyện ủy; vừa là nơi chiến đấu để bảo tồn lực lượng khi có sự cố xảy ra…”. Đồng chí Hai Thông (Nguyễn Văn Thông) đã lên bản thiết kế và bố trí căn cứ địa đạo gồm hai phần: một trên mặt đất và một dưới lòng đất.

+  Phần trên mặt đất:

Được bố trí như một tam giác đều, mỗi cạnh dài 70m với ba mặt là giao thông hào sâu 2m, rộng 1m20 tạo thành hệ thống giao thông khép kín. Cách bố trí này trong quân đọi gọi là bố trí theo kiểu “kiền 3 chân”.

Ở ba mặt giao thông hào được xây dựng 7 ụ chiến đấu, mỗi ụ có kích thước: dài 3m, ngang 2m, sâu 1m20. Bên trên mỗi ụ đều lấp cây, đắp đất dày 1m. Ở ba phía của mỗi ụ đều có ba lỗ châu mai, thường xuyên có ba chiến sĩ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Bên ngoài hệ thống giao thông hào được bố trí hai hàng chông sắt lớn, nhỏ và tầm vông vạt nhọn xen kẽ vào nhau. Cuối cùng là ba lớp hàng rào kẽm gai.

Dẫn vào căn cứ địa đạo duy nhất có một con đường mòn nằm về phía Tây Bắc của rừng “Lòng Chảo”. Tại đây được bố trí một tổ vũ trang bảo vệ huyện ủy.

Qua khỏi chốt bảo vệ, vào bên trong giao thông hào là hệ thống cơ sở làm việc của huyện ủy Nhơn Trạch như Văn phòng huyện, Mặt trận và các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông dân, hội trường, bếp ăn … Tất cả đều làm bằng vật liệu nhẹ (cây, tre, lá). Một giếng nước có đường kính 1m50 và sâu gần 20m, miệng giếng được lấp đất ngụy trang rất kỹ, chỉ chừa một lỗ tròn có đường kính 0m50.

Có thể nói căn cứ huyện ủy Nhơn Trạch được bảo vệ cả ba mặt bằng hệ thống giao thông hào, hàm chông, ụ chiến đấu và hàng rào kẽm gai rất vững chắc.

+  Phần dưới lòng đất :

Bên dưới là hệ thống địa đạo bắt đầu từ trung tâm căn cứ huyện ủy kéo dài theo hướng Đông – Nam nhắm gắn với địa đạo huyện đội và địa đạo Phước An tạo thành hệ thống địa đạo liên hoàn khép kín trong lòng đất.

Địa đạo được thiết kế có dạng gần giống như chữ chi “Z” gồm nhiều đoạn thẳng gấp khúc. Chiều dài mỗi đoạn khoảng 100m. Từ đoạn này tới đoạn kia phải qua một ngăn bí mật (có nắp đậy kín), độ dày của ngăn là 1m, ở giữa vách ngăn được khoét một lỗ tròn có đường kính vừa đủ một người chui qua.

Miệng chính của địa đạo được bố trí tại trung tâm căn cứ kích thước dài 2m; ngang 1m50, sâu 7m dẫn vào xương sống của địa đạo (độ sâu 7m tính từ mặt đất tới đáy địa đạo được đào theo hình rích rắc để tạo thành những bậc thang lên xuống dễ dàng).

Kích thước của địa đạo tính từ vòm tới đáy dao động : cao từ 1m80 đến 2m; Ngang từ 1m đến 1m20.

Nóc địa đạo có cấu trúc hình vòm (∩) để tạo sự vững chắc và giảm bớt các khả năng sập lở của đất. Dọ dày của nóc dao động từ 3m đến 5m tùy địa hình trên mặt đất và được chống đỡ bằng những cây rừng rắn chắc xếp ngang qua đường xương sống của địa đạo.

Tại điểm chính giữa ở mỗi đoạn xương sống (100m) được bố trí hai lỗ thông hơi hình phễu úp song song, được đào ở những gốc cây có kích thước lớn để tránh địch phát hiện.

Khi đào xong  đường xương sống của địa đạo dài 200m (tức hai đoạn thì bắt đầu trổ ngách sang hai bên trái và phải có chiều dài khoảng 3m để làm phòng họp, phòng văn thư đánh máy, phòng làm việc của các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, mặt trận, một bếp ăn và một giếng nước dưới địa đạo. Hầu hết các phòng kể trên có diện tích 4m x 3m = 12m2. Riêng phòng họp có kích thước 4m x 4m = 16m2).

* Nhận xét, đánh giá di tích:

Căn cứ vào kết qủa khảo sát thực tế và hồi cố các nhân chứng lịch sử. Chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây về địa đạo Nhơn Trạch.

a. Về mặt cấu trúc chung :

Địa đạo vừa có cấu trúc gần giống chữ chi “Z” (đường xương sống chính của địa đạo) lại vừa có cấu trúc hình xương các với nhiều ngách được rẽ ra từ đường xương sống của địa đạo để dẫn tới các phòng làm việc của huyện ủy, các ban ngành huyện Nhơn Trạch.

b. Nếu nhìn theo mặt cắt dọc :

Địa đạo Nhơn Trạch lại có cấu trúc hình vòm. Độ cao doa động từ vòm tới đáy từ 3m đến 5m (tùy địa hình trên mặt đất), chiều ngang doa động 1m đến 1m20. Đây là những kích thước cao, rộng thuận lợi cho chiến sĩ di chuyển dễ dàng trong lòng đất.

c. Ngăn cách giữa các đoạn địa đạo với nhau là một bức vách bằng đất dày 1m, được khoét ở chính giữa vách ngăn một lỗ tròn có đường kính vừa đủ một người chui qua lại trong địa đạo và được đậy lại bằng một nắp bí mật bằng đất sét với mục đích: khi có sự cố xảy ra chỉ cần chui qua lỗ bít nắp lại qua ngách khác tiếp tục chiến đấu.

d. Trong mỗi đoạn địa đạo (100m) được bố trí trên là sự sáng tạo khoa học của huyện ủy Nhơn Trạch trong qúa trình thiết kế. Chính vì thế mà trong suốt thời gian chiến tranh ác liệt nhất, huyện ủy Nhơn Trạch vẫn đứng vững trên địa bàn “rừng Lòng Chảo” để lãnh đạo nhân dân trường kỳ kháng chiến cho tới ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.

Tuy nhiên ngày nay các yếu tố gốc như “rừng Lòng Chảo” nguyên sinh, hệ thống giao thông hào, hầm chông, hàng rào kẽm gai, ụ chiến đấu và các cơ sở làm việc của căn cứ huyện ủy nằm phía trên mặt đất cũng như một số cơ sở nằm dưới lòng địa đạo đã bị hủy hoại theo thời gian và bom đạn của Mỹ ngụy cày xới, san ủi trong giai đoạn chiến tranh ác liệt đến nay vẫn chưa có kinh phí để khai thông.

Song những gì còn sót lại của địa đạo cùng với những nhân chứng lịch sử đã từng sống, làm việc, chiến đấu ngay trong lòng địa đạo cho phép chúng ta nạo vét, khôi phục lại nguyên vẹn địa đạo Nhơn Trạch để thế hệ trẻ hôm nay và mai sau có điều kiện tìm hiểu, chứng kiến được phần nào cuộc sống, sinh hoạt, chiến đấu của cha anh trong lòng đất; hình dung được phần nào cuọc chiến tranh tàn khốc, ác liệt đã xảy ra trên vùng rừng “Lòng Chảo” nói riêng và vùng đất Nhơn Trạch nói chung.

4.  Giá trị khoa học lịch sử, nghệ thuật, văn hóa:

Địa đạo Nhơn Trạch được hình thành là do trí tuệ, mồ hôi, công sức và cả xương máu của quân và dân huyện Nhơn Trạch. Đây là căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch làm việc và chỉ đạo tấn công địch trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Địa đạo Nhơn Trạch nói lên tinh thần chiến đấu và ý chí chiến thắng của nhân dân Đồng Nai nói riêng và cà nước nói chung. Căn cứ cách mạng Nhơn Trạch bám sâu trong lòng đất và cũng bám sâu vào lòng mỗi người dân Nhơn Trạch anh hùng. Tại nơi đây, quân và dân huyện Nhơn Trạch đã làm nên nhiều chiến công thần kỳ được sử sách ghi nhận.

Địa đạo Nhơn Trạch không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà còn thể hiện rất rõ tính khoa học của một kiến trúc quân sự, bố phòng bao gồm các yếu tố như: chọn tọa độ, địa thế, vùng đất … Địa đạo Nhơn Trạch được đào trong vùng có nhiều tre rừng xen lẫn với nhiều cây lớn. Lũy tre trên mặt đất là một loại tường thành rất độc đáo, rất dân tộc, với những cây tre lớn, nhỏ xen đầy và đầy gai góc là những công sự kiên cố, hơn cả những kiến trúc thành lũy xây đắp bằng gạch ngói. rễ tre dưới lòng đất đan bện với nhau tạo thành loại đất rất dẻo dai và chắc chắn, khi đào đường địa đạo ít bị sạt lở, chống xói mòn, chịu lực vững chắc, dễ làm lỗ thông hơi và ngách bí mật, pháo, bom của địch khó phá được sâu. Địa đạo lại được xây dựng trong vùng có nhiều cây cao nên máy bay địch khó phát hiện được ta. Địa thế rừng Lòng Chảo che chở cho quân ta nhưng lại vây hãm quân thù.

Với những giá trị to lớn đó, Địa đạo Nhơn Trạch đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 19/1/2001. 

Để thế hệ trẻ hôm nay và mai sau có điều kiện tìm hiểu cũng như hình dung được phần nào cuộc sống gian khổ của ông cha ta và cuộc chiến tranh tàn khốc, ác liệt đã xảy ra trên vùng rừng Lòng Chảo nói riêng và vùng đất Nhơn Trạch nói chung. Huyện Nhơn Trạch đã phối hợp với Bảo tàng và Ban Quản lý Di tích - Danh thắng tỉnh Đồng Nai tiến hành nạo vét lại 120m đường địa đạo dưới lòng đất. Còn trên mặt đất khôi phục lại lán trại làm việc, hệ thống giao thông hào, ụ chiến đấu, trồng một số cây rừng như: tre gai, bằng lăng nhằm tái tạo lại một phần khu rừng Lòng Chảo trong thời kỳ kháng chiến. Xây dựng nhà trưng bày để trưng bày những hình ảnh của các cô, chú, các bác đã từng tham gia chiến đấu cùng những tài liệu, hiện vật đã sử dụng trong thời kỳ chiến tranh. 

Địa đạo Nhơn Trạch đã được khởi công trùng tu, tôn tạo vào ngày 23/6/2006 và khánh thành đi vào hoạt động vào ngày 01/9/2007 trên tổng diện tích khoảng 2,5ha.

Nhà trưng bày gồm có 3 mảng:

- Thứ nhất: là mảng trưng bày về Địa đạo và căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch.

- Thứ hai: là mảng trưng bày về Tiểu đoàn 240 Biên Hòa.

- Thứ ba: là mảng trưng bày về Trung đoàn 10 Đặc công rừng Sác.

PHẦN 2

NHÀ TRUYỀN THỐNG  

1. Mảng trưng bày thứ nhất với chủ đề: Địa đạo Nhơn Trạch và căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch.

Trước năm 1961, tỉnh Biên Hòa chưa có huyện Nhơn Trạch. Đầu năm 1961, theo yêu cầu nhiệm vụ của chiến trường miền Nam, tỉnh Biên Hòa quyết định tách Long Thành làm 2 huyện: Long Thành và Nhơn Trạch. Căn cứ Huyện ủy đứng chân ở khu rừng Lòng chảo – Nhơn Trạch.

(Giới thiệu bản đồ rừng Lòng chảo huyện Nhơn Trạch)

Khu rừng Lòng chảo có tổng diện tích trên 100km2, nằm lọt giữa 2 trục đường giao thông quan trọng: Lộ 17 và lộ 19. Lòng chảo không phải là thung lũng sâu mà nhô lên như mu rùa, có các sở cao su mang tên: Ông Cố, Nguyễn Dưỡng, Tân Tường; có kho bom đạn Thành Tuy Hạ, có rừng chồi và rừng nguyên sinh với nhiều cây cao to, tre gai và dây leo rậm rạp. Dọc hai bên lộ 17 và 19 là nhà dân và vườn cây ăn trái sum suê. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Huyện ủy Nhơn Trạch đều chọn khu rừng này làm căn cứ đứng chân để lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Đầu tháng 2/1962 Ban Thường vụ Huyện ủy đã họp và nhận định: cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt, địch lấy xã Phước An làm điểm gom dân, lập ấp chiến lược nhằm đánh phá cơ sở cách mạng với mục đích đẩy lực lượng cách mạng của ta ra xa. Song song với việc gom dân lập ấp, Mỹ - Ngụy còn tiến hành cuộc chiến tranh hủy diệt dã man. Chúng dùng bơm xăng rải chất hóa học để hủy diệt địa hình nhất là khu vực rừng Lòng Chảo Nhơn Trạch để quân ta không còn chỗ trú quân, không thể dựa vào dân mà chiến đấu. Địch tổ chức nhiều đợt tấn công, đánh phá căn cứ huyện rất ác liệt.

Để giữ vững và đưa phong trào cánh mạng tiến lên, trước mắt phải quyết tâm phá quốc sách lập ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy. Trên cơ sở nhận định tình hình, Ban Thường vụ Huyện ủy chủ trương: “Tất cả các cơ quan, đơn vị từ huyện đến xã không được thoát ly địa bàn mình phụ trách, tiến hành đồng loạt xây dựng ô, ụ chiến đấu, gắn với từng bước xây dựng địa đạo phải giành lấy dân thì mới chiến thắng được quân thù. Thực hiện khẩu hiệu: Lôi địch vào rừng để tiêu diệt; một tấc không đi, một ly không dời. 

Từ kinh nghiệm đào hầm bí mật để cán bộ giấu mình hoạt động, nhưng có nhược điểm khi bị phát hiện dễ bị địch bao vây bắt và tiêu diệt. Huyện ủy Nhơn Trạch phát triển từ hầm bí mật thành địa đạo trong lòng đất để vừa trú ẩn, vừa đánh địch và khi cần sẽ thoát khỏi chỗ nguy hiểm đến một nơi khác an toàn. 

 

Huyện ủy Nhơn Trạch họp bàn việc chọn địa thế, vùng đất thích hợp và thuận lợi để tiến hành đào địa đạo, cuối cùng đi đến thống nhất chọn địa điểm thuộc thửa 81-82 và 12-13 trên bản đồ địa chính huyện Nhơn Trạch. Lý do chọn địa điểm này là vì: Đây là vùng có nhiều tre rừng lẫn với nhiều cây lớn. Tre là thế tốt cho ta nhưng lại bất lợi cho địch khi tác chiến. Rễ tre đan bện với nhau dưới mặt đất, pháo bom của địch khó phá được sâu, địa đạo ít bị sạt lở, dễ làm lỗ thông hơi và ngách bí mật. Vùng này lại có nhiều cây cao, máy bay địch khó phát hiện được ta. 

Sau khi họp bàn, Ban thường vụ đi đến quyết định giao cho đ/c Nguyễn Văn Thông - Bí thư Huyện ủy chịu trách nhiệm nghiên cứu, chuẩn bị và triển khai việc đào địa đạo. Sau khi đi học tập việc đào địa đạo ở Củ Chi về, bước đầu đ/c Hai Thông cùng với đ/c Hoàng và Thanh là cán bộ của tỉnh có kinh nghiệm đào hầm bí mật, xây dựng ô, ụ chiến đấu ở Phước An thời kỳ chống Pháp hướng dẫn cho 08 đ/c thuộc đội bảo vệ và nhân viên văn phòng Huyện ủy đào địa đạo. Thời gian sau bổ sung thêm 6 đ/c là nhân viên văn phòng huyện ủy vào đội đào địa đạo.

Việc đào địa đạo được khởi công đúng vào ngày 19/5/1962 nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ kính yêu.

- Hình ảnh Ông Hai Thông, sinh ngày 1/1/1934 tại xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch trong một gia đình nghèo khổ nhưng rất giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông đã là một thiếu niên rất gan dạ, dũng cảm. Ông tham gia hoạt động cách mạng lúc mới 12 tuổi (năm 1946). Từ năm 1955 đến 1956 ông bị địch bắt và giam tại nhà tù Tân Hiệp – Biên Hòa. Ông đã tham gia vượt ngục vào ngày 2/12/1956 với nhiệm vụ chỉ huy một mũi xung kích. Cuộc vượt ngục thành công ông trở về với cách mạng. Từ năm 1962 – 1966 và 1976 – 1979: Ông là Bí thư Huyện ủy Nhơn Trạch. Ông chính là người triển khai và tổ chức việc đào địa đạo.

- Hình ảnh ông Mười Tâm, sinh năm 1939 tại xã Phước An. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1958, ban đầu làm du kích ở địa phương, năm 1961 được huyện ủy điều về làm Đội trưởng đội bảo vệ huyện ủy đến 1975. Năm 1962, ông được đề bạt làm đội trưởng đội đào địa đạo.

- Chiếc dao găm thu được ở nhà tên ác ôn Mười Trễ.

Tháng 12 năm 1954, đ/c Nguyễn Văn Thông là xã đội trưởng xã Phú Hữu và một số đội viên xã đội đã đến khám xét nhà tên ác ôn Mười Trễ thu được một con dao găm của Mỹ còn tốt.

Giữa năm 1959, tên Hai Giò – Bí thư Chi bộ xã Phú Hữu cùng với tên Hà Tư (Trần Văn Hà) - Ủy viên dự khuyết tỉnh ủy Biên Hòa – Bí thư huyện ủy Long Thành đầu hàng địch, chỉ điểm cho địch bắt và giết trên 300 cán bộ, chiến sĩ của ta. Trước tình hình này, huyện ủy Nhơn Trạch đã chỉ đạo cho xã đội Phú Hữu phải tìm mọi cách giết tên Hai Giò ngăn chặn sự tổn thất cho cách mạng.

Đêm 20/5/1961, đ/c Nguyễn Văn Thông - Trưởng ban an ninh huyện Nhơn Trạch cùng với các chiến sĩ: Thắng, Quang, Tròn bí mật đến nhà tên Hai Giò, dùng con dao găm này giết chết tên Hai Giò.

Từ khi tên Hai Giò bị ta giết chết, cán bộ, chiến sĩ và các cơ sở mật của ta ở Nhơn Trạch, đặc biệt là ở xã Phú Hữu tương đối an toàn. Đ/c Hai Thông và các chiến sĩ đã được huyện ủy Nhơn Trạch biểu dương, khen ngợi.

- Cuốc con voi, đầm rìu hay còn gọi là thuổng được ông Phạm Xuân Trường sử dụng trong quá trình đào địa đạo.

- Ca Inox: là chiến lợi phẩm thu được của địch năm 1962, Ông Phạm Xuân Trường thuộc đội bảo vệ huyện ủy Nhơn Trạch đã sử dụng làm ca uống nước, chén ăn cơm trong quá trình tham gia đào địa đạo.

- Cà mên, chén nhôm, lọ đựng tiêu, niêu đất của bà Huỳnh Thị Cúc, bà thường nấu cơm, làm đồ ăn và dùng những dụng cụ này để mang cơm vào rừng cho cán bộ cách mạng suốt một quãng thời gian dài mà không bị địch phát hiện.

Còn đây là chiếc đèn dầu cũng của bà Huỳnh Thị Cúc mua năm 1970 dùng để phục vụ cho việc nấu nướng tại nhà và thắp sáng cho bộ đội lúc ăn cơm.

 ( Giới thiệu mô hình địa đạo): Cả đội được chia làm 2 tổ thay phiên nhau đào vào ban đêm, mọi người lấy dây leo đan thành ky, dùng cuốc, xẻng để đào và xúc đất, đất moi lên đem rải đều xung quanh, sau đó đánh những vồng cỏ lớn ở nơi khác về trồng lên hoặc phủ lá khô lên trên để xóa mọi dấu vết. 

Một đêm đội đào trung bình từ 10m đến 15m. Địa đạo nằm dưới lòng đất ở độ sâu từ 5m - 7m; độ dày đất trên nóc từ 3m - 5m; có kích thước cao từ 1,6m - 1,8m, rộng từ 1m - 1,2m, tùy từng đoạn, có chỗ phải bò mới qua được. Đây là độ cao và rộng rất phù hợp cho sự di chuyển của người Việt Nam nhưng lại bất lợi đối với bọn Mỹ.

 Đường địa đạo được bố trí dạng zích zắc. Từ đường xương sống có nhiều ngách rẽ sang hai bên. Ở điểm chính giữa mỗi đoạn địa đạo có ngách lên mặt đất và có lỗ thông hơi hình phễu. Trong đường địa đạo có một số ngăn bí mật, có nắp bằng gỗ, ngoài ngụy trang bằng đất đậy kín, độ dày của ngăn là 1m. Ở giữa vách ngăn được khoét 1 lỗ tròn có đường kính vừa đủ 1 người chui qua với mục đích hạn chế thiệt hại khi bị địch phát hiện, tấn công vào địa đạo. Nếu bị phát hiện ta chỉ việc lấp lại lỗ ở vách ngăn bí mật, sau đó chuyển qua ngách địa đạo khác để tiếp tục chiến đấu và bảo toàn lực lượng. 

Trong thời gian từ tháng 5/1962 đến cuối năm 1963 vừa làm nhiệm vụ canh phòng bọn biệt kích, thám báo, vừa chiến đấu, vừa vận chuyển lương thực, đội đã đào được 1,5km đường địa đạo. Địa đạo có khả năng chứa được từ 300 đến 500 người. Từ cuối năm 1963, việc đào địa đạo được tạm ngưng để làm lán trại cho cơ quan Huyện ủy làm việc trên mặt đất.

* Phần trưng bày về căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch: Giới thiệu sơ đồ tổ chức căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch.

Căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch được bố trí theo hình tam giác đều, mỗi cạnh dài 70m, ba mặt đều là giao thông hào sâu 1,8m, rộng 1,2m. Cách bố trí này trong quân đội gọi là kiểu “ kiềng ba chân”. Ở ba mặt giao thông hào được đắp 3 ụ chiến đấu, mỗi ụ: dài 3m, rộng 2m, sâu 1,5m. Trên mặt mỗi ụ gác cây rừng đan kín miệng sau đó phủ đất lên dày khoảng 0,5m để tránh bom. Mỗi ụ chiến đấu được thiết kế 3 lỗ châu mai quay về 3 hướng thường xuyên có 3 chiến sĩ được trang bị vũ khí sẵn sàng chiến đấu. Trên bề mặt giao thông hào cứ khoảng 3m lại gác loại cây rừng rắn chắc có đường kính lớn, bên trên ngụy trang bằng cỏ hoặc lá cây rừng, những khoảng trống để quân ta quan sát, chiến đấu khi phát hiện địch vào căn cứ.

Mặt ngoài giao thông hào là 3 lớp hàng rào kẽm gai dày đặc, giữa mỗi lớp có bố trí 3 hàng chông sắt lớn nhỏ, tầm vông vạt nhọn đan xen lẫn nhau.

Căn cứ chỉ có một lối vào duy nhất, tại đây Huyện ủy Nhơn Trạch bố trí một tổ vũ trang túc trực ngày đêm để bảo vệ căn cứ. Bên trong căn cứ vẫn là rừng già tự nhiên. Dưới những tán cây rừng là các lán trại làm việc của Huyện ủy như: nhà đ/c Bí thư Hai Thông, nhà đ/c Phó Bí thư Phạm Minh Chính, hội trường, nhà làm việc của Mặt trận Tổ quốc, nhà bảo vệ, nhà bếp...Một điều đặc biệt là giữa nhà hội trường là miệng địa đạo để khi có địch mọi người có thể nhanh chóng thoát xuống địa đạo trú ẩn an toàn. Tất cả lán trại đều được làm bằng vật liệu nhẹ (cây, tre, lá rừng) để dễ dàng di chuyển khi có tác chiến. Ở gần khu vực nhà ăn có 1 giếng nước đường kính miệng 1,5m, sâu gần 20m, miệng giếng được lấp đất ngụy trang rất kỹ chỉ chừa 1 lỗ tròn đủ để thả gầu múc nước.

Căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch đã nhiều lần phải đương đầu với các trận càn lớn nhỏ của Mỹ, Ngụy. Trong đó, tiêu biểu nhất là trận đánh Mỹ kéo dài một tuần lễ từ 27/01/1966 đến 02/02/1966.

Diễn biến trận đánh này như sau: (Giới thiệu sa bàn trận đánh)

Đầu tháng 12/1965, mặc dù mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thông báo tạm ngưng tiếng súng để nhân dân ăn tết cổ truyền và đã được địch chấp thuận nhưng ngày 17/12/1965, một đại đội Ngụy từ Phú Hội hành quân qua khu rừng Lòng Chảo đã phát hiện ra hệ thống hàng rào kẽm, lán trại của ta. Cùng lúc đó đội bảo vệ huyện ủy cũng kịp thời phát hiện được địch, nhanh chóng thông báo cho Ban Thường trực Huyện ủy vạch kế hoạch triển khai tác chiến. Theo lệnh của Thường trực Huyện ủy, đội bảo vệ và một số cán bộ, nhân viên có kinh nghiệm chiến đấu nhanh chóng triển khai ra giao thông hào và các ụ sẵn sàng chiến đấu. Bộ phận không có nhiệm vụ chiến đấu thì mang theo tài liệu và phương tiện làm việc gấp rút xuống địa đạo trú ẩn. Mọi việc được huyện ủy triển khai xong thì cũng là lúc 1 tổ gồm 3 tên địch tiến tới mở cổng rào để vào căn cứ liền bị đ/c Phạm văn Minh (cận vệ của đ/c Nguyễn Văn Thông) dùng súng K44 bắn một phát. Tuy không tên nào bị trúng đạn nhưng bọn địch đã sợ hãi rút lui về không dám bắn trả một phát súng nào.

Sau khi biết địch đã phát hiện ra khu căn cứ, Ban Thường trực huyện ủy đã họp và nhận định: “Địch phát hiện được căn cứ của ta nhưng chúng không dám giao chiến do không biết rõ khả năng, thực lực của ta. Do vậy có khả năng chúng lui quân về sẽ báo cho Mỹ. Theo kinh nghiệm chiến trường, nếu Mỹ tổ chức tấn công ta thì thường đánh sau tết Nguyên Đán. Mặc dù nhận định tình hình như vậy nhưng ngay sáng hôm sau, lực lượng đào địa đạo và lực lượng bảo vệ huyện ủy tiến hành nạo vét lại đường địa đạo, củng cố lại giao thông hào, ụ chiến đấu; kiểm tra, lau chùi các loại vũ khí. Khoảng 20 tay súng sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu.

Đúng như nhận định của ta, mới 6h sáng ngày mồng 7 tết (tức 27/1/1966), toàn bộ khu rừng Lòng chảo đang yên tĩnh bỗng vang lên tiếng động cơ của địch. 24 pháo đặt ở đình Long Thuận và Bến Sắn cùng lúc bắn cấp tập vào căn cứ của ta và một số khu vực trong vùng Lòng Chảo để dọn đường cho địch đổ quân. Lữ đoàn 199 thủy quân lục chiến Mỹ từ Phú Xuân – Nhà Bè được điều về Long Thành – Nhơn Trạch, đổ quân bằng trực thăng xuống khu Bàu Điều cách căn cứ Huyện ủy khoảng 1,5km. Hàng trăm xe tăng, thiết giáp từ quận lỵ Long Thành theo lộ 17 và 19, rẽ sang đường ủi Phước Lai, tỏa ra hướng  Bà Bông – Vũng Gấm cách căn cứ huyện ủy chưa đầy 2 km. Hai chiếc đầm già (L.19) và hai chiếc trực thăng HUIA bay nhiều vòng trên khu rừng Lòng chảo để thị uy và quan sát chỗ đổ quân. Một lữ đoàn pháo binh Mỹ đóng ở đình Long Thuận thuộc ấp Bà Ký (xã Long Phước) cách căn cứ huyện ủy khoảng 10km. Từ ba mặt khép lại, không đầy 45 phút, toàn  bộ căn cứ đã nằm trọn trong vòng vây của giặc.

Tiếng pháo vừa ngớt thì hàng chục máy bay F5 mỗi lượt là 6 chiếc thay phiên nhau rải bom, cả khu rừng Lòng chảo khói lửa mịt mù, rừng cây nghiêng ngả. Vừa im tiếng bom thì có khoảng 60 chiếc trực thăng bay đến đổ quân tại khu Bàu Điều. Trên bầu trời dày đặc máy bay địch lượn qua lượn lại, tiếng gầm rú đinh tai điếc óc.

Ngày đầu của trận càn, từ 6h sáng đến 10h trưa, lữ đoàn 199 của Mỹ chia làm 6 mũi (mỗi mũi từ 10 đến 12 tên lính) được trang bị vũ khí hiện đại từng đợt đánh vào mặt hướng Tây – Tây Bắc, hai chiếc xe tăng dẫn đầu bò vào gần căn cứ, ta cho nổ 08 trái DH làm 2 xe tăng địch bốc cháy tại chỗ. 1 tên lính Ngụy dẫn đường cho một cánh quân Mỹ theo đường mòn tiến vào căn cứ của ta, tên Ngụy mở cửa cổng hàng rào liền bị đ/c Chín Ẩn nổ phát súng đầu tiên, tên này gục chết tại chỗ. Bọn lính Mỹ thấy vậy tràn lên liền bị quân ta đồng loạt nổ súng làm nhiều tên chết và bị thương. Sau đó, cứ khoảng 10 đến 20 phút bọn Mỹ lại tổ chức làm 6 mũi tấn công vào căn cứ của ta nhưng đều bị thất bại, bọn Mỹ phải tháo lui, đóng quân cách căn cứ của ta vài trăm mét chờ đến ngày hôm sau tiếp tục tiến đánh căn cứ.

Trận càn của Mỹ sang ngày thứ 2, thứ 3, mới 5h sáng, Mỹ tăng cường lực lượng kéo quân vào căn cứ. Chúng vẫn chia thành 6 mũi dàn hàng ngang dùng súng M72, M79 bắn phá chông và hàng rào kẽm gai để mở đường cho bộ binh tràn vào căn cứ nhưng vì hàng rào kẽm gai của ta quá kiên cố không sao vào được, chúng lúng túng co cụm lại nên đã tạo điều kiện cho quân ta nổ súng tiêu diệt. 

Sau gần một tuần dùng bộ binh, xe tăng, phi pháo tấn công dồn dập vẫn không tiêu diệt được căn cứ của ta, chúng đành cho trực thăng đến rút bộ binh về, sau đó chúng cho nhiều đoàn phi cơ thả hàng trăm trái bom, dùng pháo đồng loạt bắn tới tấp vào căn cứ hòng hủy diệt hoàn toàn. Cả căn cứ mịt mù trong làn bom đạn. Một quả bom nặng 500 cân rơi xuống làm sụp 1 đoạn địa đạo dài 10m, 5 đ/c của ta đang ở dưới địa đạo đã hy sinh. Trước tình hình này, Huyện ủy nhận định: nếu ta tiếp tục bám trụ, bám căn cứ để đánh địch sẽ không còn hiệu quả nên quyết định chia làm nhiều mũi rút quân khỏi căn cứ về rừng Sác và các cở sở mật ở Phú Hội, Phước An ... an toàn.

Kết quả trận chống càn, ta đã tiêu diệt được 167 tên Mỹ và làm nhiều tên khác bị thương, 6 trực thăng bị bắn rơi, 5 xe tăng bị bắn cháy. 

(Giới thiệu hình ảnh các đồng chí giữ nhiệm vụ Bí thư Huyện ủy Nhơn Trạch qua các thời kỳ)

- Chiếc rựa này, đ/c Tư Thạnh đã sử dụng chém vào bả vai tên Mười Hiếm – Đại úy Nha Đặc cảnh miền Đông (PSE), một tên ác ôn khét tiếng lúc bấy giờ vào 12 giờ đêm ngày 25/5/1960 tại chùa Nhỏ, xã Phước An khi tên Hiếm vào chùa cúng cho con gái bị chết đuối khiến cho Mười Hiếm gục ngã để đ/c Hai Sơn nhả đạn kết liễu đời tên bán nước hại dân. Sau khi sử dụng chém tên Mười Hiếm, đ/c Tư Thạnh đã giao lại cho đ/c Võ Văn Lượng – Bí thư huyện Nhơn Trạch cất giữ.

Mặc dù cuộc chiến diễn ra ngày càng ác liệt trên chiến trường Nhơn Trạch, nhất là khu vực rừng Lòng chảo và rừng Sác nhưng huyện ủy và các lực lượng vũ trang vẫn bám chặt vào địa bàn liên tục đánh địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, kẻ thù cũng đã tìm mọi cách phá rừng Lòng chảo nhằm đánh bật lực lượng cách mạng của ta ra khỏi vùng này, nếu ta thấy khó khăn bỏ đi nơi khác là rơi vào âm mưu của địch. Vì vậy bất kỳ tình huống nào thì Đảng bộ Nhơn Trạch vẫn quyết bám địa đạo Nhơn Trạch, bám dân mà sống.

Trước quyết tâm “một tấc không đi, một ly không dời” của đảng bộ và nhân dân Nhơn Trạch, 7 giờ 30 phút ngày 14/7/1969 Mỹ đã cho xe tăng, xe ủi bao vây và ủi phá khu rừng Lòng chảo. Trong suốt một tuần từ 14 đến 20/1/1969 tất cả các lực lượng, các cơ quan của huyện đều bám trụ đánh địch quyết liệt. Thất bại nhưng địch chưa từ bỏ dã tâm ủi phá rừng Lòng chảo. Địch tiếp tục mở nhiều đợt ủi phá dài ngày từ 21/2 đến 23/3/1970, nhằm thực hiện kế hoạch “lột da” khu Lòng chảo.

6 giờ sáng ngày 21/2/1970 địch cho nhiều tốp máy bay trực thăng bắn dọn bãi. Hơn 200 lượt trực thăng, cần cẩu lên xuống không ngớt. Cả rừng Lòng chảo sôi lên trong tiếng gầm rú của hơn 250 xe tăng, xe ủi, tiếng động cơ máy bay, bom, pháo liên hồi, tiếng mìn, súng nổ loạn xạ nhiều hướng.

Ngày 23/3/1970, kế hoạch ủi phá Lòng chảo của địch chấm dứt. Mặc dù rừng Lòng chảo bị cày xới, tàn phá nặng nề nhưng kẻ địch phải trả giá rất đắt: 43 xe tăng, xe ủi bị diệt, khoảng 20 máy bay bị bắn rơi, hàng trăm tên giặc Mỹ phải bỏ xác và bị chôn vùi trong lòng đất nóng bỏng này.

Sau ngày giải phóng miền Nam, tỉnh Đồng Nai chủ trương đi tìm các hài cốt liệt sĩ, huyện Nhơn Trạch phối hợp với Sở LĐ – TBXH tỉnh Đồng Nai, với đ/c Hai Thông – Nguyên Bí thư huyện ủy và một số đ/c đã từng chiến đấu và làm việc tại huyện ủy Nhơn Trạch tiến hành khai thông địa đạo để tìm hài cốt của 5 liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh Mỹ tại căn cứ huyện ủy Nhơn Trạch kéo dài từ ngày 27/1/1966 – 2/2/1966.

- Di ảnh Liệt sĩ Nguyễn Minh Đức: Theo hồi cố của đ/c Hai Thông và các nhân chứng lịch sử, khi quân ta chuẩn bị rút quân khỏi căn cứ thì phát hiện thấy tiếng rên của đ/c Minh Đức – Phó Ban Binh vận huyện bị sập địa đạo, đất đè lên trên, chỉ còn giơ hai chân ra ngoài, các đ/c của ta đã tìm cách moi đất để cứu đ/c nhưng cứ moi được bao nhiêu thì đất ở phía trên lại sập xuống nên không làm sao lôi được đ/c ra. Trong khói lửa bom đạn, mọi người đánh đứng mặc niệm, vĩnh biệt sống đ/c Minh Đức để rút khỏi căn cứ. Năm 1996, sau khi khai thông địa đạo đã tìm thấy đủ hài cốt của 5 đ/c đã hy sinh tại đây. Khi ôm hài cốt của các đ/c lên, đ/c Hai Thông và đồng đội không cầm được nước mắt, những cảm xúc cứ trào dâng lên mãi không thôi. Và đây là một số bức ảnh được chụp trong lúc khai thông địa đạo.

- Kỷ vật của Liệt sĩ Trà Thị Ánh Nguyệt được tìm thấy trong lúc khai thông địa đạo.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Biên Hòa và Huyện ủy Nhơn Trạch, quân dân huyện Nhơn Trạch đã làm nên những chiến công vô cùng hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Kháng chiến chống Pháp: Quân và dân huyện Nhơn Trạch đã chiến đấu 900 trận lớn nhỏ, tiêu diệt hàng ngàn tên địch.

Kháng chiến chống Mỹ: chiến đấu hơn 1023 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 2405 tên địch (trong đó có 423 tên Mỹ và lính chư hầu Thái Lan). 

Toàn huyện có trên 2.300 liệt sĩ từ mọi miền đất nước đã ngã xuống trên mảnh đất này, 249 bà mẹ của huyện đã được phong tặng danh hiệu BMVNAH (tính đến 7/12/2018 còn 12 mẹ còn sống), 4 xã: Phước An, Phú Hội, Phú Hữu, Long Thọ đã được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 Với những chiến công đó, ngày 29/01/1996 huyện Nhơn Trạch đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

2. Mảng trưng bày thứ hai với chủ đề: Tiểu đoàn 240 Biên Hòa (d240)

Đầu năm 1961, phong trào Đồng Khởi của nhân dân miền Nam đã chuyển dần lên thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đẩy Ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Trước tình hình này để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ phải chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.

Để kịp đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới của chiến trường miền Nam, tỉnh Thủ Biên được chia làm 3 tỉnh: Thủ Dầu Một, Bà Rịa và Biên Hòa. Để thành lập đơn vị vũ trang cho tỉnh Biên Hòa, cấp trên đã giao cho đ/c Nguyễn Văn Bé, đ/c Tư Thương, đ/c Tám Bảo cùng hơn 20 chiến sĩ thuộc C380, là đơn vị vũ trang tập trung của tỉnh Thủ Biên cũ thành lập Đại đội 240 Biên Hòa vào năm 1961. 

Quân số ban đầu của C240 chỉ có 42 đồng chí được tổ chức làm hai trung đội thiếu. Bước sang năm 1962, lực lượng C240 đã có đủ 4 trung đội, quân số trên 200 người. Các chiến sĩ C240 đa số là con em huyện Nhơn Trạch, Long Thành, vùng Chiến khu Đ. Địa bàn hoạt động của C240 trải rộng khắp chiến trường trong tỉnh từ Chiến khu Đ, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Long Thành và Nhơn Trạch.

Năm 1966, tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa sát nhập làm một lấy tên là Bà Biên, huyện Long Thành và Nhơn Trạch cũng nhập lại lấy tên là huyện Long Thành. Đơn vị C240 được điều động đứng chân tại khu rừng Lòng chảo - huyện Nhơn Trạch.

(Giới thiệu sơ đồ tổ chức C240 – năm 1966)

Căn cứ C240 được bố trí theo dạng hình đa giác đều, có đường kính khoảng 300m, xung quanh là chiến hào (rộng 0,8m, sâu 1,2m), trên được ngụy trang các cây rừng để tránh bị máy bay địch phát hiện. Xung quanh chiến hào bố trí 3 Trung đội Bộ binh, 1 Trung đội Hỏa lực và 1 đội Trinh sát. Mỗi trung đội đều có hầm ngủ dạng chữ T và bếp Hoàng Cầm. Ban Chỉ huy được bố trí gần Trung đội 4 và đội Trinh sát. 

Cạnh Ban Chỉ huy bố trí 1 khẩu Cối 60 và 1 pháo ĐKZ 57. Nhà làm việc của Ban Chỉ huy cũng chính là hội trường hội họp của C240.

Nhiệm vụ của C240 là hỗ trợ cho du kích các xã trên trục đường 17 và 19, đồng thời phải bám trụ cho được địa bàn Nhơn Trạch để bảo vệ và tạo điều kiện cho các quân khu R đứng chân, tiếp tục hành quân vào Sài Gòn hoạt động và hỗ trợ cho Huyện ủy, các đơn vị vũ trang ở địa phương diệt ác, phá kìm, mở rộng vùng giải phóng.

- Hình ảnh của các đồng chí đã từng nằm trong Ban chỉ huy đại đội cùng những hiện vật, tài liệu được các đ/c sử dụng phục vụ cho cuộc chiến đấu.

- Chân dung liệt sỹ Huỳnh Văn Chiến, sinh năm 1936 tại Thủ Dầu Một, Bình Dương. Tháng 9/1969 đ/c Chiến được điều động giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Phân khu 4 đứng chân ở Bình Trưng, Thủ Đức. Khoảng 6 giờ tối một ngày cuối tháng 9/1969, đ/c Năm Chiến và đ/c Bảy cận vệ luồn rừng từ căn cứ C240 vượt sông Đồng Nai sang nhận nhiệm vụ ở Thủ Đức. Hai đ/c vừa rời căn cứ được 30 phút thì đ/c Thủy nghe một tiếng nổ lớn, biết là có chuyện chẳng lành. Một lúc sau, đ/c Bảy người đầy thương tích trở về báo đ/c Chiến đã vị trúng mìn. Đ/c Thủy liền cho một tiểu đội theo đ/c Bảy dẫn đường đi tìm, nếu còn chút hy vọng thì gấp rút cứu chữa, bằng không thì cũng phải tìm được xác đem về an táng.

Trời tối, lại phải tránh sự truy lùng của địch nên các chiến sĩ C240 đi tìm đến 10 giờ tối mà vẫn không thấy. Ít ngày sau, khi bọn Thái rút đi, đơn vị C240 hành quân qua Phú Hội thì thấy đ/c Chiến nằm cách đường 20m, cách chỗ đơn vị đi tìm khoảng 600m. Thật đau lòng, mọi người không ai cầm được nước mắt. Đ/c Năm Chiến vào sinh ra tử, đánh biết bao nhiêu trận vậy mà lại hy sinh một cách đột ngột, làm cho tất cả các chiến sĩ C240 đều sục sôi khí thế đánh địch trả thù cho người chỉ huy, người anh dũng cảm của đơn vị C240 – Biên Hòa.

Năm 1972, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Biên Hòa quyết định “Tăng cường chất lượng và số lượng cho Đại đội 240, nâng thành Tiểu đoàn 240 (D240) nhằm đối phó với âm mưu của địch trên chiến trường Biên Hòa sau khi Mỹ buộc phải ký kết hiệp định Pari về Việt Nam. Tiểu đoàn 240 gồm 3 đại đội, với hơn 200 cán bộ, chiến sĩ. Đảng bộ có hơn 50 đảng viên. 

( Giới thiệu các loại vũ khí mà đơn vị 240 tự chế tạo)

Ngoài vũ khí được trang bị, Tiểu đoàn 240 còn tự chế tạo các loại vũ khí sau:

* Bộc phá sào: Dùng để phá hàng rào kẽm gai của địch. Cấu tạo của loại này như sau:

Một bộc phá thường dùng 20 miếng thuốc nổ TNT, loại 20gam một miếng, đấu dài trên một thanh gỗ một mét, trong mỗi miếng thuốc nổ đều có một kíp nổ số 8, ở đầu có một nụ xòe gắn vào kíp, cho nổ mau hay chậm do ta cắt dây cháy chậm.

Trước khi nổ súng trinh sát bò vào hàng rào dây kẽm đặt bộc phá vào, khi được lệnh các trinh sát giựt nụ xòe và bò ra bộc phá nổ, nếu hàng rào chưa mở được thì phải đánh tiếp tục, có khi đến 3 quả mới mở được hàng rào kẽm của địch. Đây là nhược điểm của loại này vì đánh nhiều lần dễ sát thương cho ta.

* Bộc phá vuông: Dùng để đánh lô cốt ở các đồn bót địch.

* Bộc phá phao: Đây là tên đơn vị 240 tự đặt, nó rất đơn giản chỉ cần dùng một ruột xe tải bơm căng, lấy một miếng ván để lên và chồng khối thuốc nổ 100 ký lên trên ràng kỹ, câu một dây điện và kíp nổ vào khối thuốc, đem xuống dòng sông cách cầu 150m, chờ khi nước lớn thả xuống giữa dòng, khi nước lên đẩy phao và khối thuốc vướng vào dây kẽm gai dừng lại giữa cầu, chờ cho nước thật lớn, nâng khối thuốc lên cao gần cầu ta bắt đầu châm điện khối thuốc nổ cầu sập, số bộ binh địch canh giữ bị sát thương, ta thì an toàn và rút ra khỏi trận địa.

* Mìn định hướng: gọi tắt là ĐH do công binh xưởng của ta chế tạo, vỏ được làm bằng tôn 1 ly, khi máy bay của Mỹ ném bom xuống không nổ ta đem cưa để lấy thuốc TNT và chế ra loại mìn này.

Đơn vị 240 đã lập được rất nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng, đối với địa bàn huyện Nhơn Trạch, đơn vị 240 đã đánh 502 trận lớn, nhỏ. Trong đó tiêu biểu nhất là trận đánh Tiểu đoàn Mãng Xà Vương của Thái Lan và Trung đội cánh dơi tại căn cứ của 240 ở Đồng Suối Ngọn (xã Phước An) vào mùa khô năm 1967.

(Giới thiệu sơ đồ mô tả trận đánh Tiểu đoàn Thái Lan và Trung đội cánh dơi ngày 22/7/1967). Diễn biến trận đánh này như sau:

Tháng 7/1967, đơn vị 240 được lệnh hành quân xuống ấp Vũng Gấm, xã Phước An, ở căn cứ chỉ còn lại 30 đ/c là thương binh và bệnh binh do đ/c Nguyễn Văn Thủy – Đại đội phó cũng bị thương ở nhà chỉ huy. 

Đại đội hành quân được 2 ngày thì vào 8 giờ sáng ngày 22/7/1967, một Tiểu đoàn lính Thái Lan (phiên hiệu Mãng Xà Vương) và Trung đội cánh dơi từ căn cứ Bàu Điều càn vào Đồng Suối Ngọn, nơi căn cứ của 240. Bọn Thái đụng ngay đ/c của ta canh gác ở ngoài căn cứ đã nổ súng bắn bị thương đ/c này và đuổi theo vào đến căn cứ 240. Nghe tiếng súng, biết là đã đụng địch, đ/c Thủy bình tĩnh triển khai lực lượng ở công sự, chiến hào và phát lệnh nổ súng. Các hỏa lực của ta từ chiến hào bắn dữ dội về phía quân Thái và Trung đội cánh dơi làm nhiều tên chết và bị thương, chúng hoảng sợ phải bỏ chạy, tạm thời rút ra xa căn cứ để củng cố lực lượng. 

Trong thời gian này, đ/c Thủy cho bố trí lại hỏa lực, khẩu đại liên được đặt ngay hướng bọn Thái bò vào. Mọi công việc chuẩn bị xong thì cũng là lúc bọn Thái tấn công lần thứ hai. Chúng kêu pháo ở căn cứ Bàu Điều và Bến Sắn ( Phước Thiền) bắn dữ dội vào căn cứ của 240. Trên bầu trời máy bay các loại của địch quần đảo liên tục hỗ trợ cho bộ binh tấn công. Nhưng khi bọn Thái vừa tràn vào gần chiến hào liền bị hỏa lực của ta tiêu diệt nên không tài nào chiếm được căn cứ. Cuộc chiến giằng co gần 4 giờ đồng hồ bọn Thái chết và bị thương rất nhiều, cuối cùng đành phải tạm rút lui. Sau đó, chúng kêu pháo ở Bàu Điều và Bến Sắn bắn liên tục vào căn cứ của 240 và gọi trực thăng bắn hỏa tiễn phía sau căn cứ nhằm không cho quân ta rút lui.

Sau 30 phút pháo và máy bay bắn vào căn cứ 240, thấy chiến trường im lặng, bọn Thái không la hét mà im lặng, thận trọng bò vào căn cứ mở đợt tấn công lần thứ 3, liền bị các chiến sĩ của C240 phát hiện dùng lựu đạn đánh một loạt làm nhiều tên chết và bị thương, số còn sống sót nổ súng đánh trả quyết liệt. Lúc này, đ/c Thủy quyết định cho khẩu pháo 60 bắn liên tiếp vào giữa đội hình bọn Thái, cách chiến hào của đơn vị 25m làm cho quân Thái bị thiệt hại nặng. Biết không thể cầm cự thêm được nữa, bọn Thái đành đánh thủ pháo màu đỏ ám hiệu kêu máy bay đến ném bom hủy diệt rồi rút lui. Nhìn lên bầu trời, thấy thủ pháo màu đỏ, đ/c Thủy biết là bọn Thái đã rút lui và sẽ gọi máy bay đến hủy diệt căn cứ nên đã nhanh chóng triển khai cho anh em rút lui ra khỏi căn cứ về đóng quân tại xã Phú Mỹ an toàn.

Kết quả trận chống càn: Quân Thái và Ngụy chết và bị thương trên 100 tên, C240 bị thương một đồng chí.

Như vậy, chỉ có 30 chiến sĩ là thương bệnh binh đã anh dũng đánh trả 01 tiểu đoàn lính Thái và Trung đội Cánh Dơi trong suốt 4 giờ đồng hồ thu được thắng lợi to lớn. Đây là trận chống càn tiêu biểu của C240 đã dựa vào công sự, lấy ít đánh nhiều thu được thắng lợi mà vẫn đảm bảo an toàn lực lượng.

- Hình ảnh của các mẹ VNAH và một số mẹ đã từng làm nhiệm vụ cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi dấu cán bộ C240.

- Ảnh chân dung Mẹ VNAH – Liệt sỹ Phan Thị Ớn. Mẹ sinh năm 1912 tại xã Phú Hội anh hùng. Nhà của mẹ là cơ sở cách mạng trong xã, trong vườn nhà có nhiều hầm bí mật nằm giáp với triền rừng nên anh em bộ đội, du kích thường hay đi về. Mẹ nghèo khổ nhưng lòng mẹ bao dung, một mực thương yêu và lo lắng nhiều đến các con đi theo cách mạng. Hôm đó, vào một ngày của năm 1970 như thường lệ, sáng sớm một toán lính đi vào triền rừng, sau một hồi càn quét, bắn phá, bọn chúng kéo về. Song chỉ có phân nửa, phân nửa còn lại, chúng nằm ém quân trên ấy. Khi anh em cơ sở lục tục kéo về thì mẹ phát hiện ra chúng, mẹ đã ứng xử kịp thời và gan dạ bằng cách liều mình xông ra cản đường. Nhờ hành động quả cảm của mẹ mà anh em bộ đội, du kích hôm đó bảo toàn được lực lượng. Bọn địch vô cùng tức giận nên đã hèn hạ trả thù mẹ bằng một loạt đạn bắn thẳng vào người. Mẹ mất mà một viên đạn M79 chưa kịp nổ vẫn còn nằm ngay trong người. Năm đó mẹ 58 tuổi, mộ của mẹ chôn sơ sài. Sau giải phóng các con mới bốc mộ về an táng ngay trong vườn nhà.

Mẹ đã được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 24/11/1994 vì có 2 con là liệt sĩ. Tấm ảnh chân dung này mẹ chụp vào năm 1962 do một lần tình cờ đ/c Lê Ngọc Ẩn - con trai mẹ được các chú, các anh ở Bình Dương báo cho biết có một tấm ảnh tập thể trong đó có mẹ. Đ/c Ẩn đã xin tách ra vì lúc mẹ hy sinh bọn giặc đã đốt sạch nhà mẹ không để lại thứ gì. Vào năm 2007, đ/c Ẩn đã bàn giao tấm ảnh này cho BQL Di tích – Danh thắng tỉnh Đồng Nai để trưng bày tại đây.

- Nhóm thiếu niên của xã Phước An, huyện Nhơn Trạch được giáo dục tư tưởng cách mạng vừa chăn bò vừa làm nhiệm vụ trinh sát, thu thập tin tức hoạt động của bọn địch.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước lực lượng thiếu niên ở các xã trong huyện Nhơn Trạch đã góp phần không nhỏ cho lực lượng cách mạng ở địa phương như: Trinh sát nắm tình hình hoạt động, sinh hoạt thường ngày của địch tại các đồn bót, thông báo kịp thời cho các cơ sở mật ở địa phương; canh gác, báo tin, đưa thư, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho lực lượng cách mạng…

- Những di vật của các liệt sĩ Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 và Đại đội 240 Nhơn Trạch tìm thấy được cùng với hài cốt vào năm 2013 và 2014 tại xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch.

Vào lúc 21 giờ ngày 20/12/1967, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 và Đại đội 240 Biên Hòa tổ chức đánh trực diện vào một Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Vườn Điều xã Phước Thọ, huyện Nhơn Trạch. Trận đánh diễn ra một đêm đã tiêu diệt một bộ phận lực lượng Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan, phá hủy nhiều vũ khí của địchTuy nhiên, về phía ta (theo thống kê chưa đầy đủ) trên 100 đồng chí thuộc Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa đã anh dũng hy sinh. Trong làn mưa đạn của kẻ thù, một số cán bộ, chiến sĩ ngã xuống trong hình hài không còn nguyên vẹn. Đau đớn hơn, khi kết thúc trận đánh, địch đã dùng phương tiện xe cơ giới đem thi thể của các liệt sĩ vùi lấp vào các hố chôn tập thể gần địa điểm đóng quân của chúng. 

Bầu trời Phước Thọ ngày ấy nhuốm một màu đau thương, tang tóc khắp cùng làng, ngõ xóm. Các anh đã hy sinh khi tuổi đời hãy còn quá trẻ, là con em trên khắp mọi miền của Tổ Quốc, trong đó có quê hương Nhơn Trạch, Đồng Nai và các tỉnh Miền Tây Nam bộ, chủ yếu là các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, Long An. Đây là tổn thất vô cùng to lớn, Đảng ta mất đi những đảng viên kiên trung, bất khuất; Quân giải phóng mất đi những cán bộ, chiến sĩ trung dũng, kiên cường; quê hương và gia đình mất đi những người con trung hiếu, người chồng thủy chung, người cha mẫu mực.

Chiến tranh kết thúc đã nhiều năm, địa hình, địa vật của chiến trường xưa có nhiều thay đổi; các nhân chứng lịch sử người còn, người mất, do đó, việc xác định thông tin để khảo sát, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ gặp không ít khó khăn. Hơn 45 năm đã trôi qua, các liệt sĩ hy sinh chưa được quy tập đầy đủ về nghĩa trang liệt sĩ, hài cốt của các anh vẫn còn phải nằm lại dưới lòng đất lạnh, đó là nỗi đau ray rứt, sự băn khoăn, trăn trở của Đảng bộ và nhân dân huyện nhà. Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ đạo 1237 của tỉnh; sự phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các cấp, các ngành tỉnh Đồng Nai và sự ủng hộ của các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng cùng nhân dân địa phương, huyện Nhơn Trạch đã tiến hành công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt các liệt sĩ từ tháng 5/2012. Quá trình triển khai công tác tìm kiếm, quy tập đã được Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy thường xuyên quan tâm theo dõi và trực tiếp chỉ đạo. 

Sau hơn 3 năm nỗ lực tìm kiếm với tinh thần trách nhiệm cao nhất, kết quả:

- Đợt 1: Khảo sát tìm kiếm từ ngày 14/5/2012 đến ngày 20/6/2013 với diện tích đào đất khoảng 13ha, chiều sâu từ 1m đến 1,5m. Kết quả ngày 20/6/2013 đã phát hiện 01 hố chôn tập thể, theo nguồn tin Cựu chiến binh Thái Lan cung cấp là hố chôn này khoảng trên 20 người. Thời gian cất bốc từ ngày 20/6 đến 26/6/2013 đã tìm được 27 gói hài cốt liệt sĩ cùng với nhiều di vật như dép râu, quần đùi, tấm đắp, võng dù…

- Đợt 2: Từ tháng 11/2013 đến ngày 18/8/2014 với diện tích đào đất khoảng 18ha, chiều sâu từ 1m đến 1,5m.  Kết quả ngày 18/8/2014 đã phát hiện 01 hố chôn tập thể, theo nguồn tin Cựu chiến binh Thái Lan cung cấp là hố chôn này khoảng trên 80 người. Thời gian cất bốc từ ngày 18/8 đến 22/8/2014 đã tìm được 109 gói hài cốt liệt sĩ cùng với nhiều di vật như dép râu, quần đùi, tấm đắp, võng dù… 

Trải qua hơn 45 năm dài đằng đẵng nhưng việc tìm được các đồng chí là niềm vui mừng khôn xiết, vì đó là tâm nguyện từ lâu của Đảng bộ và nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Vào chiều 30/8/2014, tại Đền thờ liệt sĩ huyện Nhơn Trạch, Ban Tôn giáo và Ban trị sự Hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đồng Nai đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức Đại lễ cầu siêu tưởng niệm anh linh của hơn 100 anh hùng liệt sĩ đã hy sinh.

Ngày 31/8/2014, huyện Nhơn Trạch tổ chức trọng thể lễ truy điệu và an táng hài cốt liệt sĩ Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn bộ binh 5 và Đại đội 240 Biên Hòa về an nghỉ tại Công viên Nghĩa trang liệt sỹ huyện Nhơn Trạch.

Đến dự lễ truy điệu có nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh; nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết; nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Vĩnh Trọng... cùng nhiều lãnh đạo các tỉnh Đồng Nai, Bến Tre, Tiền Giang, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu và TPHCM.

Trong buổi lễ truy điệu và an táng còn có rất đông các đồng đội, thân nhân của các liệt sĩ và đông đảo quần chúng nhân dân cũng đã đến đây để dâng nén hương tưởng nhớ các vị anh hùng liệt sỹ.

 (Giới thiệu bảng tổng kết của Tiểu đoàn 240)

Như vậy trong suốt 15 năm (1961 - 1975) quá trình hình thành từ Đại đội lên Tiểu đoàn, đơn vị 240 đã đánh 502 trận lớn nhỏ, tiêu diệt, làm bị thương và bắt sống hàng ngàn tên Mỹ, Ngụy và chư hầu Thái Lan, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch; đơn vị hy sinh 326 đồng chí (thống kê chưa đầy đủ), bị thương 119 đồng chí... Với những thành tích đạt được đã góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta làm thất bại cơ bản các chiến lược của Mỹ - Ngụy và quân chư hầu Thái Lan trên chiến trường miền Nam Việt Nam; buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ký Hiệp định Pari (27/01/1973); góp phần to lớn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.

3. Mảng trưng bày thứ ba với chủ đề: Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác

Mỗi khi nhắc đến Đoàn 10 ĐCRS, người dân Nam Bộ vẫn không quên những trận đánh làm cháy, chìm tàu quân sự vạn tấn của Mỹ trên sông Lòng Tàu và các bến cảng, những trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ vào năm 1972, trận đánh kho xăng Nhà Bè năm 1973 và những trận pháo kích vào Dinh Độc lập, tòa đại sứ Hoa Kỳ…đã đi vào lịch sử quân sự Việt Nam.

Cái tên Đoàn 10 ĐCRS là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, mãi mãi là nỗi kinh hoàng của kẻ thù.Vậy Đoàn 10 ĐCRS là ai mà kẻ thù phải khiếp sợ, kinh hoàng mỗi khi nhắc tên của họ? Xin được giới thiệu đôi nét về Đoàn 10.

Đầu năm 1966, đồng chí Phan Hàm - Phái viên của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam triển khai chỉ đạo của Quân ủy Trung ương với Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền về việc thành lập một khu quân sự ở phía Đông Nam Sài Gòn để khống chế con đường huyết mạch của địch ở Sông Lòng Tàu. 

Tại Chiến khu Đ, đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh B2 và đồng chí Trần Độ - Phó Chính ủy Miền đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Lương Văn Nho (Hai Nhã) - Tham mưu trưởng Sư đoàn 5 của Miền thực hiện nhiệm vụ thành lập Đặc khu Quân sự Rừng Sác.

Ngày 15/4/1966, Đặc khu Quân sự Rừng Sác chính thức được thành lập với mật danh là T10. Quân số ban đầu gồm 614 người do đồng chí Lương Văn Nho làm Đặc khu Trưởng kiêm Chính ủy. Đảng bộ Đặc khu Quân sự Rừng Sác có 372 Đảng viên.

Nhiệm vụ chủ yếu của Đặc khu là xây dựng khu căn cứ thành bàn đạp vững chắc để khống chế sông Lòng Tàu, đánh chìm tàu địch trên sông rạch nhỏ, tại cảng và tiến đến đánh kho tàng lớn của địch; xây dựng cơ sở cách mạng, đẩy mạnh chiến tranh du kích; bảo vệ hành lang vận chuyển hàng chiến lược của ta theo đường mòn Hồ Chí Minh trên biển vào Nam.

Các đơn vị trực thuộc Đặc khu gồm 4 đội chiến đấu, 2 đội vận chuyển hàng chiến lược và 3 cơ quan: tham mưu - chính trị, hậu cần, trạm xá cùng xưởng quân giới. Địa bàn hoạt động trải rộng trên 10 xã thuộc nhiều tỉnh khác nhau như Biên Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Gia Định được chia làm hai khu: khu A phía Đông sông Lòng Tàu, khu B phía Tây sông Lòng Tàu.

Trong thời gian đầu xây dựng lực lượng, Đặc khu đã gặp vô vàn khó khăn do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiếu thốn mọi thứ, nhất là nước ngọt để sinh hoạt; dân chúng bị địch theo dõi, kiểm soát chặt chẽ, khó móc nối quan hệ công tác, phong trào cách mạng địa phương còn yếu… Tuy nhiên, nhờ công tác chính trị được chú trọng từ đầu, cộng với tinh thần chịu đựng gian khổ của cán bộ chiến sĩ; cùng với sự giúp đỡ che chở của nhân dân, Đặc khu đã vượt qua được thử thách, từng bước trưởng thành dày dạn trong xây dựng và chiến đấu.

Để chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968, Ban chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác được điều về Miền. Lực lượng quân còn lại của Đặc khu thành lập Đoàn 10 do đ/c Nguyễn Việt Hoa làm Đoàn trưởng và đ/c Đặng Văn Việt làm chính ủy.

Sang xuân Mậu Thân 1968, đ/c Nguyễn Việt Hoa và đ/c Đặng Văn Việt được điều về đơn vị mới. Đ/c Nguyễn Hoàng Sơn được thay làm đoàn trưởng và đ/c Lê Bá Ước làm chính ủy. Quân số lúc này của Đoàn 10 là 800 người, chia thành 12 đại đội.

Đến cuối năm 1969, đồng chí Nguyễn Hoàng Sơn chuyển về Miền, đồng chí Lê Bá Ước được cử làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Trong suốt thời kỳ chống Mỹ 1969 – 1975, Sở chỉ huy của Trung đoàn 10 ĐCRS được đặt dọc bờ sông Đồng Tranh của xã Phước An và bờ sông Thị Vải, sống và làm việc trên các sạp gỗ làm bằng cây đước dựng trên sình lầy, sông nước của rừng Sác.

Mười năm liên tiếp (1966 - 1975) đương đầu với kẻ thù trên vùng sông rạch sình lầy, Trung đoàn 10 đã đánh 595 trận lớn nhỏ làm nức lòng nhân dân Nam Bộ và quân dân cả nước nhưng những chiến công ấy cũng phải trả giá bằng máu của bao chiến sĩ trên khắp mọi miền của Tổ quốc, họ chấp nhận hy sinh cho độc lập, tự do và mãi mãi nằm lại trên mảnh đất sình lầy sông nước này. Cho đến bây giờ vẫn còn trên 500 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy, đã trôi dạt ra biển cả hoặc làm mồi cho cá sấu.

Để tri ân đối với các anh hùng liệt sĩ Đ10, trong khuôn khổ của nhà trưng bày xin được giới thiệu một số tài liệu về Đoàn.

(Giới thiệu bản đồ rừng Sác)

Rừng Sác là tên gọi chung của một khu vực rừng ngập mặn nguyên sinh rộng lớn với diện tích khoảng 710km2. Hệ thống đường bộ khu vực Rừng Sác rất ít ỏi, chủ yếu sử dụng đường thủy với các sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.

Rừng Sác có 4 con sông lớn: Sài Gòn, Đồng Tranh, Thị Vải và Lòng Tàu. Trong đó sông Lòng Tàu là con sông lớn nhất cắt Rừng Sác thành hai khu vực Đông và Tây. Sông dài trên 50km nối với sông Nhà Bè ra tận Biển Đông, sông Lòng Tàu có độ sâu trung bình là 15m cho phép tàu có trọng tải hàng chục tấn qua lại dễ dàng.

Rừng Sác có một hệ sinh thái rừng ngập mặn với điều kiện môi trường rất đặc biệt, trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn. Thực vật nơi đây rất phong phú với trên 150 loài, trong đó, thực vật chủ yếu là đước, bần, mắm, chà là, dừa nước… đặc biệt là quần thể đước đan xen, dựa vào nhau tạo nên một cảnh quan thiên nhiên đặc trưng của Rừng Sác. Bên cạnh đó, rừng Sác còn có hệ động vật phong phú với nhiều loài như khỉ, sóc, chuột… nhiều loại chim như cò, sếu, diệc, vẹt, bìm bịp, cú quạ, hồng hộc, le le... nhiều loại bò sát như cá sấu, tắc kè, rắn, rùa và nhiều loại cá, tôm, cua, ốc....

* Vị trí chiến lược của Rừng Sác:

- Đối với kẻ thù:

Đây là vùng trọng yếu tiếp giáp Sài Gòn - Gia Định, trung tâm đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Từ lâu sông Lòng Tàu đã trở thành con đường thủy quan trọng từ biển vào Sài Gòn. Trong hai cuộc kháng chiến, cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều vận chuyển vũ khí trên trục đường thủy chiến lược này. Mỹ đã xây dựng 6 cảng quân sự trên vùng sông Sài Gòn như quân cảng Nhà Bè, Cát Lái, Thành Tuy Hạ, Rạch Dừa ở đầu và ở cuối sông Lòng Tàu để thay thế cảng Sài Gòn về việc tiếp nhận hàng quân sự. Sông Lòng Tàu trở thành con đường vận chuyển chiến lược sống còn của Mỹ, tướng Mỹ Westmoreland gọi sông Lòng Tàu là “con đường thủy huyết mạch”. Chúng đã xây dựng một tổ chức quân sự Ngụy gọi là “Biệt khu rừng Sác”.

Năm 1963, để tăng cường sức mạnh, bộ Tổng tham mưu Sài Gòn cho đổi “Biệt khu Rừng Sác” thành “Đặc khu Rừng Sác” chịu sự chỉ huy của Tư lệnh quân khu 3 (Ngụy) về mặt lãnh thổ và trực thuộc chỉ huy của Bộ Tư lệnh Hải Quân về mặt hành quân tác chiến. Bộ Chỉ huy Đặc khu đóng ngay cạnh quân cảng Nhà Bè do Trung tá Nguyễn Việt Thanh - một tên ác ôn khét tiếng làm Chỉ huy trưởng và Thiếu tá Lương Văn Bè làm Chỉ huy phó.

Lực lượng đặc khu gồm quân binh chủng Hải quân, pháo binh, được tăng cường một phi đội máy bay có vũ trang, được trang bị tàu bò bo, tàu tuần, tàu há mồm, tàu quét mìn. Về pháo binh có trận địa 105 ly và 155 ly đặt tại các căn cứ: Nhà Bè, Phước Khánh, Ăn Thịt…. Ngoài ra, Mỹ còn điều động về Rừng Sác Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 199 và ưu tiên cho mọi chi viện kể cả không quân chiến lược, Hải quân Ngụy, trong đó có cả Hạm đội 7 để trục xuất lực lượng cách mạng ra khỏi Rừng Sác.

- Đối với lực lượng cách mạng:

Rừng Sác là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta. Rừng Sác nằm ở vị trí gần căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Miền Đông và các đơn vị chủ lực của Bộ tư lệnh Miền, Quân khu 7... Phần lớn diện tích Rừng Sác thuộc địa bàn huyện Cần Giờ và Nhơn Trạch , là địa phương có phong trào cách mạng sôi nổi, người dân kiên trung, anh dũng, một lòng gắn bó với cách mạng…

Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, Rừng Sác là một vùng có nhiều căn cứ kho tàng, đường giao thông vận chuyển quan trọng của ta, là nhánh rẽ của “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” đồng thời là nơi đứng chân của các lực lượng cách mạng địa phương Cần Giờ và các vùng lân cận. 

Rừng Sác không chỉ đơn giản là một khu rừng ngập mặn mà là trận đồ bát quái của mạng nhện luồng lạch, một pháo đài tự nhiên của trùng điệp đảo triều với hàng trăm đảo triều lớn nhỏ dàn thế bao vây quân thù. Vì thế rừng Sác sớm trở thành căn cứ địa kháng chiến – một chiến khu ở sát sào huyệt của địch mà vẫn đứng vững trong suốt hai cuộc kháng chiến.

- Hình ảnh cố Thiếu tướng Lương Văn Nho, sinh ra ở Đồng Nai, ông là người lãnh đạo đầu tiên của Đoàn 10 Đặc công rừng Sác thời kỳ chống Mỹ với chức vụ Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy giai đoạn 1966 – 1967. Sau này ông là Thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân khu 7, ông từ trần năm 1989. 

- Hình ảnh cố Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước.

Nhắc đến Đại tá Lê Bá Ước (Bảy Ước) không thể không nhắc đến những chiến công vang dội đã làm nên lịch sử trong các trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ, đốt cháy kho xăng Nhà Bè, pháo kích vào Dinh Độc lập, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ.

Ông sinh năm 1931 trong một gia đình và làng quê giàu truyền thống yêu nước ở huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang). Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1945, sau đó tập kết ra Bắc rồi quay về Nam chiến đấu. Từ năm 1969 – 1975 ông giữ chức vụ Trung đoàn trưởng kiêm chính ủy Trung đoàn 10 ĐCRS. Từ năm 1994 ông nghỉ hưu và trở về với cuộc sống đời thường, ông luôn khiêm nhường giản dị. Ông cũng tham gia sáng tác nhiều thơ, văn, hồi ký… và là hội viên Hội Văn học - nghệ thuật tỉnh Đồng Nai. Đặc biệt Hồi ký Một thời Rừng Sác ra đời như một lời tri ân, một nén tâm nhang mà Đại tá tưởng nhớ đến những chiến sĩ đặc công đã anh dũng chiến đấu hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại chiến khu Rừng Sác. Qua những trang viết Một thời Rừng Sác (trọn bộ 2 tập) chúng ta càng hiểu thêm giá trị hy sinh của hơn hai ngàn liệt sĩ đã hy sinh trên mảnh đất Nhơn Trạch, trong đó có đến 860 liệt sĩ là cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 10.

Dù ở vị trí nào, Đại tá Lê Bá Ước vẫn luôn giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Với 85 tuổi đời, 65 năm tuổi Đảng và gần nửa thế kỷ tham gia cách mạng, Đại tá Lê Bá Ước là hình mẫu của tấm lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân và là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ học tập và noi theo. Do tuổi cao sức yếu, ông đã từ trần vào ngày 18/10/2016, ông đã được đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sỹ của huyện Nhơn Trạch.

- Một số hình ảnh về các cuộc hành quân tác chiến của đoàn.

- Tổ hợp Công binh xưởng chế tạo vũ khí: Đây là xưởng sản xuất vũ khí tự tạo được ra đời từ những ngày đầu thành lập Đ10 năm 1966 với nhiệm vụ tận dụng vũ khí lấy được của địch để sản xuất, chế tạo các loại vũ khí nhằm đánh tàu địch trên sông và nơi bến cảng. 

- Bộ sưu tập ảnh do quân đội Úc chụp về đoàn, được lưu giữ tại Hội Cựu chiến binh Việt Nam tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và một số hình ảnh thăm lại chiến trường xưa, một số tờ báo viết về đoàn.

- Bức tranh sơn dầu do họa sĩ Hưng thực hiện vào năm 2005 tặng cho Đại tá Lê Bá Ước khi ông đang phối hợp với hãng phim trẻ và Tổng công ty Du lịch Sài Gòn thực hiện bộ phim tư liệu “Như một huyền thoại”. Nội dung của bức tranh nói về tính quả cảm, gan dạ, thông minh, đức tính hy sinh, tinh thần bất khuất của người chiến sĩ đặc công Rừng Sác trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Chiến đấu trên địa bàn rừng Sác, các cán bộ, chiến sỹ đặc công thủy phải luôn lặn hụp ngày đêm trong sông nước. Muốn đánh được một trận tại bến cảng thì chân phải không đạp đất, bơi lội hàng mấy chục cây số, phải chịu đựng ác liệt với tất cả các loại máy bay tàu chiến kể cả B52 rải thảm và các cỡ pháo nòng ngắn nòng dài. Chưa đủ, đơn vị còn phải lo đối phó với một loài cá dữ không kém phần gay go nguy hiểm là cá sấu rừng Sác. Cá sấu là loài động vật đã trở thành nỗi khiếp sợ đối với quân Mỹ, với các chiến sỹ và nhân dân ở xứ Nhơn Trạch.

Trong một lần hành quân bằng xuồng đến ngã ba Thiềng Liềng lúc ban đêm, một tổ chiến đấu đang vượt sông thì biệt kích Mỹ trên bờ bắn xối xả, anh em phải đạp xuồng lặn sâu thoát khỏi vòng vây. Chiến sỹ Nguyễn Đức Chương bị một con cá sấu lao tới nhe hai hàm răng nhọn hoắt quặp vào bên vai phải dìm xuống sâu, với phản ứng tự nhiên, anh dùng tay trái còn lại sờ soạng với hết tầm tay gặp phải mắt nó, anh móc mạnh vào, có lẽ sấu bị nhột nên nhả con mồi ra. Anh trồi lên mặt nước thở hơi dài lập tức lại bị nó lao đến lần hai gắp vào vai trái lôi đi. Anh hết sức bình tĩnh nhớ đến cây dao găm, một kỷ vật của người cha ở Nam Định trao cho khi bắt đầu vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu. Anh dùng hết sức mạnh đâm một nhát vào mắt nó vọt máu tươi. Sấu đành nhả con mồi lặn mất. Anh cố sức bơi vào bờ trườn lên bãi nằm bất tỉnh. Ngay trong đêm khi ngớt tiếng súng, đồng đội tìm được anh và đưa về bệnh xá trung đoàn ở sông Thị Vải. Mãi bốn tháng sau, Anh mới ra viện với nhiều vết sẹo kéo dài trên thân thể.

Đại đội phó Lương Đình Mướt, trong một trận đánh tàu ở khu vực Độ Hòa trên sông Lòng Tàu, khi rút về bị máy bay truy kích nên lạc đội hình, một mình anh với cây chà là nhọn vác trên vai để xỏ vào mang con cá chép to tướng vừa bắt được. Đến bờ sông Đồng Tranh, nhìn bên kia là căn cứ đại đội 5 của mình, anh từ từ xuống nước. Vừa ngập đến đầu gối thì một con cá sấu với cặp mắt đỏ lừ lao thẳng tới, hai hàm răng sắc nhọn quặp ngay vào đầu gối, tiện tay anh đâm thẳng vào mắt nó không rõ vì đau hay vì đã gắp được con cá chép nên sấu lặn mất. Anh Mướt bò lên bờ chân đau nhức, máu ra đầm đìa theo vết răng, vết thương sưng to phát sốt, anh nằm mê man bất tỉnh giữa rừng chà là rậm rạp. Có lẽ hàm răng nó dơ dáy đầy chất độc đã gây nhiễm trùng cho vết thương.

Ở đơn vị, anh em bủa ra đi tìm 2 ngày không thấy Anh đâu và đã điện báo về trung đoàn chuẩn bị làm lễ truy điệu. Qua ngày thứ 3 dần dần tỉnh lại, nghe được tiếng chuông nhà thờ ngân vang hướng lộ 19, anh mừng rỡ biết mình còn sống. Không còn cách nào khác hơn, cũng may có một chiếc bình tông cỡ lớn của Mỹ trôi dạt vào bờ, anh nắm lấy làm phao hỗ trợ rồi từ từ xuống nước lội đứng nhẹ nhàng vượt sông về đơn vị.

Trên sông Ông Kèo, Trung đội trưởng Khét, quê ở Long An cùng một chiến sỹ đang lội dưới nước kéo cá cải thiện cho đơn vị, một con sấu lao tới gắp đ/c Khét đi, anh không kịp kêu lên tiếng nào, chiến sỹ bảo vệ trên bờ chỉ còn biết bắn mấy loạt AK cảnh cáo theo dòng nước. Cũng trên đoạn sông này Trung đội trưởng Nghĩa, một chiến sỹ đặc công thủy bơi giỏi như rái cá cũng đã bị sấu ăn thịt. Và còn rất nhiều chiến sỹ khác bị sấu cắn bị thương.

Trước tình hình phải đối phó với loại sấu hung dữ đã quen mùi thịt người này, anh em rất căm tức và cũng có phần ngán ngại vì không biết chúng có mặt ở chỗ nào. Ban chỉ huy Trung đoàn phát động đợt thi đua đánh trả cá sấu. Lúc này đại đội 14 mua ngay một con vịt bầu béo mượt, cặp hai bánh thuốc nổ vào đôi cánh, thả cho vịt lội bập bềnh trên mặt sông ông Kèo. Đến nửa đêm, con sấu mò tới gắp ngay miếng mồi bơi đi, một tiếng nổ ấm, vang trong đêm đen, dòng máu loang ra, nó bị chìm sâu, luồng nước chảy xiết đã cuốn đi theo một thằng “giặc giữ”. Mãi về sau này người dân phát hiện một con cá sấu trôi dạt và tan rã ngoài sông xa…. Sau đó, từng tổ phân nhau đi lục tìm những bầy sấu con mới nở trứng trong các hố bom. Anh em có sáng kiến cởi quần dài, quấn vào cánh tay quơ qua quơ lại ở hố bom, sấu con háu đá lao vào cắn, răng sữa nhọn dính ngay vào vải, bắt lên từng con một đem về kho nghệ. Thịt sấu con còn nhão, ăn chưa ngon nhưng cũng được bữa cải thiện.

Đã diệt thì phải diệt từ trong trứng, có hôm đại đội 12 tìm ở các bãi sình lầy hốt gọn một ổ hơn 30 quả, hình dáng như hột vịt hơi tròn hơn và nhỏ hơn, khi nấu chín lòng trắng vẫn bầy nhầy không bao giờ đặc, ăn vào rất béo…

Gian khổ không chỉ có thế, toàn bộ rừng ngập mặn, quanh năm không có nước ngọt ăn uống cũng là bài toán tính bằng xương máu. Anh em phải chèo ghe ban đêm luồn lách tránh biệt kích, máy bay đột vào các ấp chiến lược Bà Bông, Bảy Giả…thuộc xã Phước An chở từng can nước giếng. Nếu gạo hết có thể nhịn được năm ba ngày chớ nước thiếu thì thật gay go. Về sau, địch biết rõ, chúng tiến hành phục kích án ngữ các miệng giếng, bờ ao. Nhiều dòng máu chiến sỹ đã đổ để đổi lấy thùng nước ngọt.

Trong hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt của thiên nhiên, cán bộ và chiến sĩ Rừng Sác vừa chiến đấu, vừa phải nghiên cứu, tìm cách để giải quyết vấn đề về nước ngọt. Họ đã sáng tạo ra cách nấu nước mặn thành nước ngọt theo kiểu “chưng cất” như nấu rượu.  Bộ dụng cụ bao gồm một nồi bằng nhôm, ở khoảng trên nồi là một cái phễu to bằng miệng nồi rồi gắn chặt vào thành nồi. Phía dưới thành nồi đục một lỗ tròn để gắn ống dẫn bằng nhựa. Các chiến sĩ của ta lấy nước mặn đổ vào nồi đun sôi, nước bốc hơi theo ống dẫn chảy ra ngoài, đó chính là nước ngọt.

Việc chưng cất nước mặn thành nước ngọt được thực hiện một cách kín đáo để tránh bị địch phát hiện, oanh tạc vào căn cứ. Với cách làm này, hai chiến sĩ nấu trong vòng 24 tiếng đồng hồ có thể thu được 300 lít nước ngọt. Số nước ít ỏi này được chia cho anh em theo tiêu chuẩn trung bình mỗi người được 4 lon sữa bò/ngày. Ngoài cách “chưng” nước độc đáo này, các chiến sĩ đặc công còn lấy nước bằng cách chẻ cây ra thành từng thanh nhỏ rồi ghép lại giống hình chiếc thùng, sau đó lót tấm nilon vào bên trong để hứng nước mỗi khi trời mưa…

Để bám trụ và đánh được giặc, theo chỉ tiêu trên giao, phải có đủ lương thực nuôi quân, trong lúc Nguyễn Văn Thiệu cứ gào thét: “Tử hình, tử hình cho ai đem ra một ký gạo tiếp tế Việt Cộng”. Bọn địch bám sát các cửa ấp, người dân ra rừng đem theo một gô cơm cũng bị làm khó dễ, xét hỏi gắt gao. Nếu ở rừng giồng có thể đi đào củ chụp, củ mài, hái rau tàu bay…còn ở rừng Sác, duy nhất chỉ có đọt chà là gai là ăn được, dưới sông nhiều tôm cua cá nhưng không có gạo thì cũng chỉ ăn chống đói cao lắm là được hai ngày. Bộ đội phải nhờ vào số bà con cơ sở chí cốt dũng cảm chấp nhận bị tù đày khi bị lộ, dùng ghe ngụy trang thật khéo bằng lá dừa nước để vận chuyển gạo từ Cà Mau, Bến Tre, Châu Đốc…về cho đơn vị.

Mỗi chiến sỹ đặc công khi xuất kích phải bơi lội dưới nước hàng chục cây số, chân không đụng đất, phải ém lại dưới hầm bí mật ngập nước ở các gò ô môi, gò bình bát, chỉ nhờ duy nhất vào túi gạo rang, bình toong nước, bọc nilong dán bằng dầu muỗi của Mỹ làm phao. Trong tay chỉ tự vệ bằng quả lựu đạn, cây dao găm, mấy miếng võ thuật sở trường, cổ đeo lủng lẳng chiếc ống thở để lặn sâu áp sát mục tiêu…

Dù phải chịu đựng gian khổ, hiểm nguy như vậy nhưng trong thời gian đứng chân ở Rừng Sác Nhơn Trạch, Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và sau này là Sở Chỉ huy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đã chỉ đạo và tổ chức nhiều trận đánh lớn, nhỏ góp phần quan trọng vào thắng lợi vang dội của quân và dân miền Đông Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong đó tiêu biểu là trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ vào ngày 13/12/1972 đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Khu kho nằm ở phía Bắc rừng Lòng chảo huyện Nhơn Trạch, cách Sài Gòn về hướng Đông Nam khoảng 10km theo đường chim bay. Khu kho này được thực dân Pháp xây dựng từ những năm đầu của thế kỷ XX để chứa các vũ khí quân sự phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và các chiến trường Đông Dương.

Khu kho này có diện tích 378,5 ha chia thành 6 khu nhỏ (Khu chỉ huy và doanh trại lính, khu quân khuyển, khu đạn pháo 105 ly và 175 ly, khu mìn các loại, khu hóa chất và khu bom).

Bao quanh khu kho có hệ thống 10 lô cốt, tháp canh được bố trí với khoảng cách 200m/một lô cốt. Trên các lô cốt có hệ thống đèn pha cực mạnh và được pha rọi liên tục 5 phút một lần vào ban đêm. Khoảng giữa các lô cốt được xiềng một con chó becgiê và một lính canh gác. Đồng thời từ đường tuần tra ngoài vào đường tuần tra trong chúng còn bố trí 14 hàng rào kẽm gai các loại. Từ hàng rào số 7 vào khu kho có một số dây truyền điện. Khoảng cách giữa các hàng rào địch bố trí hệ thống các bãi mìn. Ngoài ra còn có 10 bờ đê đất cao 3m làm vật cản. 

Từ Sông Sâu vào kho địch bố trí 3 cầu cảng để bốc chuyển vũ khí vào kho và cung ứng bom đạn cho các chiến trường ở Đông Dương.

Với hệ thống phòng thủ nghiêm ngặt địch cho rằng khu kho Thành Tuy Hạ là nơi cộng sản không thể đột nhập phá hủy được.

(Giới thiệu sơ đồ mô tả trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ lần IV (13/12/1972). Diễn biến trận đánh này như sau:

Đúng 21 giờ ngày 12/12/1972, một tổ đặc công gồm 5 đ/c (Quyết, Hòa, Thắng, Sáng và Trữ do đ/c Hai Quyết làm tổ trưởng, đ/c Hòa làm tổ phó) được lệnh xuất phát từ căn cứ Cây Trắc Nằm qua xã Long Tân, vượt lộ 17 về cánh đồng Ấp Bình Phú rồi bơi men theo mép bờ Sông Sâu qua cầu cảng số 1 để tiếp cận mục tiêu. Toàn tổ nhanh chóng vượt bờ đê và hàng rào kẽm gai chui vào bãi cỏ đuôi chồn vào khoảng 4 – 5 giờ sáng. Đây là thời điểm không còn điều kiện đột nhập bên trong khu kho được nữa. Do đó, toàn tổ đã phân thành hai mũi nằm ém lại dưới bãi cỏ đuôi chồn 1 ngày tới 7 giờ tối ngày 13/12 tổ tiếp tục đột nhập. Sau 2 giờ tìm kiếm, tổ đặc công đã tìm thấy kho bom.

Kho bom là một khu đất trống trong lô cao su. Diện tích mỗi khu đất rộng 100m2, hai bên có giao thông hào. Phía trước và sau đều có bờ đê cao từ 2 – 2,5m chắn giữ. Các loại bom đều để ngoài trời, xếp dưới các gốc cây cao su. Mỗi khu đất 100m2 được xếp 6 dãy bom, mỗi dãy 60 trái loại 150kg, cao 2m. Loại bom CPU 7 tấn chỉ xếp 2 quả trên 100m2.

Sau khi xác định cách bố trí, sắp xếp bom trong kho, tổ quyết định hình thức đánh cuốn chiếu từ trong ra ngoài. Khi gắn xong kíp nổ, toàn tổ rút theo đường cũ về căn cứ nhưng khi gần tới lộ 17 đã gặp phải lính tuần tra, toàn tổ buộc phải vòng trở vào kho, sau đó chia thành 2 mũi rút về hướng xã Phước Lý, vượt qua Sông Sâu, theo lộ 17 về căn cứ Cây Trắc Nằm trong đêm 13/12/1972.

Kết quả trận đánh: đã thiêu hủy 80 dãy nhà kho chứa gần 100.000 tấn bom các loại, cả kho bom bốc cháy dữ dội suốt 3 ngày đêm. Còn về phía ta cả 5 đồng chí đều trở về căn cứ an toàn.

- Hình ảnh Trung tá Nguyễn Hữu Hòa, sinh năm 1951 tại Tiền Hải, Thái Bình. Nguyên là Tiểu đoàn trưởng đoàn 10 giai đoạn 1983 – 1985, Tham mưu trưởng đoàn 10 giai đoạn 1987 – 1996, là người đã bốn lần đột nhập đánh phá kho bom Thành Tuy Hạ vào tháng 4, tháng 8, tháng 11 và tháng 12 năm 1972, hiện nay ông đang sống tại huyện Nhà Bè – TP.HCM.

- Hình ảnh của 8 dũng sĩ đang tuyên thệ trước Trung đoàn trưởng Lê Bá Ước trước giờ xuất kích trận đánh kho xăng Nhà Bè. (Trong ảnh tính từ trái qua phải: Hà Quang Vóc – Đại đội phó, mũi trưởng trực tiếp chỉ huy trận; Nguyễn Hồng Thế - Tổ trưởng tổ 1; Phạm Văn Tiềm; Đỗ Hải Quân; Hoàng Hữu Hinh; Nguyễn Văn Rực: Tiểu đội phó; Nguyễn Công Bao – Trung đội trưởng, mũi phó; Trần Ngọc Sỹ - Tổ trưởng tổ 2).

Kho xăng Nhà Bè cách trung tâm Sài Gòn 8km về hướng Đông Nam, là quân cảng lớn nhất Miền Nam tiếp nhận nhiên liệu xăng dầu phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược. Kho gồm 3 hãng: Caltex, Shell, Esso, trong đó, Shell là kho lớn nhất rộng 14 ha gồm 72 bồn chứa hàng trăm lít xăng dầu cung ứng cho 60% nhu cầu xăng dầu quân sự cho miền Nam và được bố phòng rất chặt chẽ, cẩn mật với hàng rào kẽm gai, hàng rào bùng nhùng cao 3,5m cùng ngỗng, chó becgie, mìn trái, tháp canh, hệ thống đèn pha chiếu sáng và tường xây cao 2,5m, có đường tuần tra cho các loại xe Honda, ô tô chạy liên tục. Đặc biệt có lực lượng liên phòng hỗn hợp bảo vệ từ trên không, dưới nước, đất liền dưới quyền chỉ huy của Trung tá Quận trưởng Nguyễn Đắc Di; Chi khu trưởng Thiếu tá Quách Vĩnh Chung – một tên ác ôn khét tiếng. 

Cách tổ chức ra vào của công nhân cũng hết sức gắt gao, mỗi người đều có thẻ nhận dạng do Shell cấp. Sau khi cảnh sát Quốc gia thẩm tra lý lịch kỹ càng, cứ vào 100m phải có giấy phép đặc biệt của cảnh sát yếu khu. Tại khu bơm xăng cứ 7 công nhân thì có 13 tên an ninh giám sát.

Sau nhiều lần điều nghiên, Trung đoàn quyết định điều động Đại đội 5 đặc công thủy bộ về giao nhiệm vụ tổ chức một đội quyết tử gồm 8 dũng sĩ do Đại đội trưởng Cao Hồng Ngọt phụ trách, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Lê Bá Ước. Họ liên tục tổ chức nhiều đợt bám sát điều nghiên và qua 14 chuyến vô cùng gian khổ, đã có nhiều lần thoát chết vì đụng địch, đội 5 cũng đã xác định được lối đột nhập vào kho xăng. Một mặt đơn vị liên lạc được với công nhân nội tuyến chuyển ra một sơ đồ bố trí trong kho đầy đủ làm cơ sở nghiên cứu để đắp một sa bàn kho shell gần đúng như thật để huấn luyện anh em và thông qua phương án tác chiến ngay trên bờ sông Ông Kèo.

Sau lễ tuyên thệ tổ chức đơn giản, trang nghiêm trong căn chòi lá của Đại đội 5 nằm ngay Rạch Lá. Đoàn trưởng Lê Bá Ước đọc mệnh lệnh chiến đấu, mũi trưởng Hà Quang Vóc hạ quyết tâm: “Chưa đốt cháy kho Shell chưa trở về”. Sau khi phát biểu căn dặn, động viên lần cuối, ông Lê Bảy ôm hôn 8 dũng sỹ, chụp chung nhau tấm ảnh kỷ niệm quý giá trước giờ xuất kích, cùng ông Cao Hồng Ngọt tiễn anh em đến sát mép nước.

19 giờ đêm 2/12/1973, 8 dũng sĩ được lệnh xuất kích, họ theo dòng thủy triều từ cửa biển Vũng Tàu theo con sông Lòng Tàu chảy xiết vào Nhà Bè, bập bồng trên mặt nước đội hình 8 dũng sĩ như những thiên thần ẩn hiện, gắn bó với nhau bằng sợi dây liên kết, thả trôi từ từ trong đêm tối hướng về kho Shell. Với kỹ thuật điêu luyện họ dễ dàng lọt qua tất cả các loại tàu tuần tiễu, qua mặt cảng hải quân. Đến 21 giờ 30 phút tất cả đã leo lên bờ sát mép hàng rào ngoài kho xăng, âm thầm tỉnh táo cùng ăn nắm cơm vắt  cho chắc bụng trước khi bước vào trận. Nắm chặt tay nhau dặn dò lần cuối: “Đồng chí nào về được nhắn lời thăm anh em và bà con Rừng Sác”. Trong đội hình đ/c Thế lên đầu ở vị trí mũi nhọn đến các đ/c Vóc, đ/c Sĩ, đ/c Quân, đ/c Rực, đ/c Hinh, đ/c Tiềm và mũi phó Nguyễn Công Bao đi sau cùng. Đ/c Thế nhanh tay cắt hàng rào B40 cho toàn đội vượt rào vào áp sát kho xăng lúc 0 giờ ngày 3/12/1973.

20 phút sau, 7 dũng sĩ đã gắn kíp đặt mìn đúng vị trí, lần lượt rút ra vượt sông về căn cứ, riêng đ/c Quân do phải né tránh tốp lính gác nên ra chậm hơn.

0 giờ 35 phút, kho Shell bùng nổ. Còi báo động rú lên inh ỏi, liên hồi. Trung liên, M79 bắn xối xả vào khu cửa mở; tàu, xuồng chiến chạy hỗn loạn trên sông. Trên bầu trời không còn yên tĩnh bởi trực thăng, đầm già, phản lực gầm rú ầm ì. Hai đ/c Bao và Tiềm vượt sông đầu tiên lọt vào vòng vây của tốp tàu địch. Tốp thứ 2 là các đ/c Sỹ, đ/c Hinh, đ/c Rực ra đến 1/3 sông bị địch phát hiện bắn súng, ném lựu đạn hàng loạt, anh em nhanh trí tháo dây liên kết, mỗi người thoát ra mỗi ngã. Lúc này, đ/c Quân vẫn còn nằm trong vòng rào, lợi dụng lúc chúng đang hỗn loạn nhốn nháo, anh đã nhanh chân vọt ra giữa ánh sáng như ban ngày, ra đến sông đụng một ghe máy, chúng bắn anh bị thương nhẹ nơi chân, lập tức một quả lựu đạn ném trả nổ tung, anh chạy thoát. Hai đ/c Vóc và đ/c Thế đến bờ sông quan sát thấy địch phong tỏa tứ bề không sao xuống nước được. Với kinh nghiệm dày dặn, hai anh lùi lại tìm chỗ ém an toàn ngay sát chân rào suốt ngày hôm sau mới tìm cách vượt sông thoát về căn cứ.

Trận đánh này đã đạt được hiệu quả cực lớn: Thiêu hủy 250 triệu lít xăng, 12 bồn Butagar, cơ sở trộn nhớt, khu nhà lính cháy trụi và chiếc tàu Hà lan trọng tải 12 ngàn tấn bị cháy hỏng. Thiệt hại tương đương 20 triệu đô la Mỹ. Kho xăng Nhà Bè bùng cháy suốt 12 ngày đêm. Về phía ta, hai ngày sau trận đánh thì 6 dũng sĩ đã cắt rừng, lội sông về đến Sở chỉ huy an toàn. Hai đ/c Bao và đ/c Tiềm theo tin địch và bà con kể lại thì 2 anh đã bị 7 chiếc tàu vây bắt, chỉ qua một giây suy nghĩ căng thẳng trước mặt hàng chục tên địch trên tàu, hai anh đi đến quyết định dứt khoát không chút do dự, cùng dùng răng cắn chốt bung hai quả lựu đạn ra khỏi tầm tay. Máu thù hòa cùng máu của ta loang đỏ mặt sông Nhà Bè, sàn tàu nghiêng ngửa ngập khói cay xè.

Bẵng đi một thời gian 26 năm, vào một ngày tháng 7/1999, người dân đi mò cua bắt ốc mới phát hiện dấu vết đoạn xương trồi lên bên cạnh hàng rào kho xăng. Anh chị em Đoàn 10 đã tổ chức bốc hài cốt hai đồng chí mình về với nguyên vẹn chiếc mũ, sợi dây mang ống thở. Và đây chính là chiếc mũ và chiếc ống thở của liệt sĩ Nguyễn Công Bao đã tìm thấy được cùng với hài cốt vào năm 1999.

Đ/c Nguyễn Công Bao khi lên đường hành quân vào Nam chiến đấu thì vợ anh là chị Vũ Thị Hiệp vừa sinh đứa con trai tròn hai tháng tuổi. Còn đ/c Phạm Văn Tiềm với lứa tuổi đôi mươi, còn người bố già đang sống ở Thanh Hóa. Họ là những con người đương nhiên ai cũng muốn được sống và tiếp tục chiến đấu, nhưng với trận đấu này có một yêu cầu chính trị thật khắc nghiệt “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “…không để bị địch bắt sống…”. Cuộc đời con người ai cũng qua một lần chết nhưng có những cái chết trở thành bất tử như sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ. Những anh hùng như Nguyễn Công Bao hay Phạm Văn Tiềm xứng đáng được nhân dân tuyên dương là anh hùng thật sự. Gương chiến đấu hy sinh của họ là những bông hoa tuyệt đẹp, mãi mãi tỏa ngát hương thơm trên sông nước Nhà Bè.

Đây là bảng tổng kết những chiến công và khen thưởng của Đ10 ĐCRS anh hùng. Từ khi thành lập năm 1966 cho đến năm 1975, Đ10 ĐCRS đã đạt được rất nhiều thành tích đáng khâm phục và tự hào. Đoàn 10 đã đánh 595 trận lớn, nhỏ; diệt 6.200 tên Mỹ, Ngụy; phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Đơn vị cũng đã được Quốc hội tuyên dương Đơn vị anh hùng vào năm 1973 và tặng thưởng nhiều Huân chương; tặng danh hiệu anh hùng cho 06 đồng chí…

Xin mượn hai câu thơ của Đại tá Lê Bá Ước - Nguyên Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đ10 thay cho lời kết của mảng trưng bày này:

Mãi mãi hiên ngang rừng sác đứng

Mỗi người ngã xuống một bài thơ.

Một số hình ảnh

Ban chấp hành tỉnh ủy Biên Hòa – được trưng bày trong nhà truyền thống

Ảnh tư liệu được trưng bày trong nhà truyền thống

Bức tượng đài Chiến sĩ Đặc công rừng Sác nằm trong khuôn viên Đền thờ

Đền thờ Liệt sĩ huyện Nhơn Trạch

Khuôn viên Đền thờ Liệt sĩ huyện được bao bọc bởi rất nhiều cây xanh

 

Hoạt động
Thống kê truy cập

Hôm nay

2,626

Tổng lượt truy cập

489,041
Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử UBND xã Phước An

R1
R12
R3
R4
R5
R6
R7
R8
R9
R10
R11
R13
R14
Thông báo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây