Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và
Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan
ngày 20/12/1967 tại xã Phước An
1. Tên gọi
Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan ngày 20/12/1967 tại xã Phước Thọ, huyện Nhơn Trạch.
2. Địa điểm phân bố và đường đi đến
2.1. Địa điểm phân bố:
Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan ngày 20/12/1967 tại xã Phước Thọ, huyện Nhơn Trạch (sau đây viết tắt là: Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Nhơn Trạch), trước kia thuộc xã Phước Thọ, huyện Nhơn Trạch (Phân khu 4; nay thuộc ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
2.2. Đường đi đến di tích:
- Từ thành phố Biên Hòa đến Ngã ba Vũng Tàu, theo Quốc lộ 51 (hướng Biên Hòa đi Bà Rịa - Vũng Tàu) đến km 60, rẽ phải vào cổng chào thành phố mới Nhơn Trạch theo đường tỉnh lộ 25B (đường Tôn Đức Thắng) đến ngã tư đèn xanh, đèn đỏ (ngã tư Hiệp Phước) rẽ trái theo đường Hương lộ 19 (đường Hùng Vương) qua UBND xã Long Thọ khoảng 1km là tới di tích. Di tích cách thành phố Biên Hòa khoảng 35km về hướng Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40km về hướng Đông.
- Từ thành phố Hồ Chí Minh đi qua Phà Cát Lái theo đường Tỉnh lộ 25B (đường Tôn Đức Thắng), đến ngã tư đèn xanh, đèn đỏ (ngã tư Hiệp Phước) rẽ phải theo đường Hương lộ 19 (đường Hùng Vương) qua UBND xã Long Thọ khoảng 1km là tới di tích.
Du khách có thể đến tham quan di tích bằng mọi phương tiện giao thông đường bộ rất thuận lợi.
3. Phân loại di tích
Căn cứ Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Di sản văn hóa; căn cứ kết quả khảo sát, nghiên cứu về di tích thì Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Nhơn Trạch thuộc loại hình di tích lịch sử (nơi ghi dấu sự kiện lịch sử cách mạng).
4. Sự kiện lịch sử và đặc điểm của di tích
4.1. Bối cảnh chiến trường miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 - 1968:
* Về phía địch: Sau những thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đặc biệt là phong trào Đồng Khởi năm 1960 và sự ra đời Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960), chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965) của Mỹ - ngụy cơ bản thất bại.
Chế độ tay sai ở Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ, nhằm cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam. Đây là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng lực) được đề ra trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. “Chiến tranh cục bộ bắt đầu từ giữa năm 1965, được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu, quân của chính quyền Sài Gòn, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị”. Tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu tiêu diệt lực lượng cách mạng với kế hoạch “tìm và diệt” với mục đích:
- Nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo được chủ lực lực lượng cách mạng, giành thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang cách mạng trở về thế phòng ngự, buộc phải phân tán, đánh nhỏ, hoặc rút về biên giới, làm cho thế trận chiến tranh cách mạng lụi dần.
- Mở rộng và củng cố hậu phương của chúng, lập đội quân “bình định” kết hợp hoạt động càn quét với các hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp, bắt nhân dân trở lại ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy.
Ỷ vào ưu thế quân sự với vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh; Mỹ - Ngụy cho quân viễn chính mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” tiến đánh các đơn vị quân giải phóng ở Vạn Tường - Quảng Ngãi (8/1965), sau đó mở hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân vào đồng bằng khu V và miền Đông Nam bộ.
* Về phía lực lượng cách mạng: Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" thất bại đã cổ vũ làn sóng chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong các tầng lớp nhân dân Mỹ, sự phân hóa trong giới cầm quyền Mỹ. Trong khi đó cách mạng miền Nam đang ở thế thắng, cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đạt được nhiều thành tựu và là hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến ở miền Nam.
Tháng 12/1965, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 được tổ chức, Đảng ta nhận định:
- Thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ - ngụy sẽ làm cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam trở nên ác liệt hơn bởi cuộc chiến lúc này ngoài lực lượng quân đội Sài Gòn, còn có cả quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu của 5 nước: Nam Triều Tiên (Hàn Quốc), Thái Lan, Philippin, Tân Tây Lan (Niu Dilen), Ôxtrâylia cùng tham gia với quân số đông và vũ khí hiện đại.
- Trung ương Đảng cũng nhận định: Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn; do đó cách mạng miền Nam phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công.
- Cuộc chiến tranh tuy ngày càng trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường miền Nam, có lực lượng và điều kiện để đánh bại mọi âm mưu của địch trước mắt và lâu dài.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 với ý chí “quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”, quân và dân miền Nam đã chiến đấu anh dũng và liên tiếp giành được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ - ngụy và chư hầu trên chiến trường miền Nam Việt Nam đẩy chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đi vào thế bế tắc, thất bại.
4.2. Bối cảnh chiến trường huyện Long Thành - Nhơn Trạch giai đoạn 1965 - 1968:
Huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch nằm ở khu vực tam giác Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sài Gòn với vị trí: Hướng tây giáp với quận 7 và quận 9 (thành phố Hồ Chí Minh) có sông Nhà Bè làm giới hạn. Hướng tây bắc tiếp giáp Tổng kho Long Bình, cách trung tâm tỉnh lỵ Biên Hòa và sân bay quân sự Biên Hòa khoảng 20km; hướng đông cách quốc lộ 2 khoảng 10km; hướng nam có địa đạo Nhơn Trạch - căn cứ địa cách mạng của huyện ủy Nhơn Trạch và khu Rừng Sác bao la nối liền với Cần Giờ (Sài Gòn).
Rừng Sác có vị trí quan trọng khu vực miền Đông Nam bộ, ôm gọn sông Lòng Tàu, được xem là “cuống họng” đường thủy từ Sài Gòn ra hải phận quốc tế. Nơi đây, là địa bàn đứng chân, hoạt động của lực lượng: Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Ngoài ra, các xã thuộc vùng ven Quốc lộ 15 (nay là Quốc lộ 51), tỉnh lộ 17, và 19 của huyện Long Thành - Nhơn Trạch là cơ sở cách mạng của nhiều đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương.
Do có vị trí chiến lược quan trọng đối với khu vực miền Đông Nam bộ nên Long Thành - Nhơn Trạch trở thành địa bàn quan trọng của cả hai phía (Mỹ - Ngụy và lực lượng cách mạng).
* Về phía địch: Từ năm 1965, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược "Chiến tranh cục bộ" trên địa bàn huyện Long Thành - Nhơn Trạch; tổ chức lực lượng, xây dựng các căn cứ quân sự với trang bị vũ khí mạnh. Trên sông Lòng Tàu, sông Đồng Nai, nhiều tàu quân sự cỡ lớn xuất hiện. Những dàn pháo 105 ly, 155 ly, 175 ly và loại tự hành được đặt ở Thành Tuy Hạ, khu căn cứ Nước Trong, Bình Sơn, Dốc Thái, Vườn điều, chùa Nước Nhĩ, Bến Sắn, Phước Hòa và Chi khu Long Thành...”.
Để thực hiện kế hoạch “bình định cấp tốc” khu vực miền Đông Nam bộ, Mỹ - ngụy đã chọn huyện Long Thành - Nhơn Trạch làm địa bàn thí điểm. Tại đây, địch tiến hành phân loại xã, ấp theo thứ tự A, B, C. Theo đó, xã loại A là địa bàn địch có thể làm chủ cả ngày lẫn đêm; xã loại B là địa bàn địch chỉ làm chủ được ban ngày và một số ấp ban đêm; xã loại C là địa bàn địch chỉ làm chủ được ban ngày. Ngoài ra, địch còn điều về địa bàn huyện Long Thành - Nhơn Trạch 7 đoàn gọi là “Đoàn cán bộ xây dựng nông thôn” với nhiều thủ đoạn lừa gạt nhân dân, hòng ly gián giữa người dân với cách mạng.
Bước sang năm 1966, ngay từ những ngày đầu tháng Giêng, Lữ đoàn 199 Thủy quân lục chiến Mỹ từ Phú Xuân (Nhà Bè) được điều về huyện Long Thành - Nhơn Trạch, thay cho Lữ đoàn dù 173. Địch chiếm đóng ở một số vị trí trên các trục lộ, tổ chức càn quét, tấn công quy mô lớn vào khu căn cứ Lòng Chảo - Hang Nai thuộc huyện Nhơn Trạch. Tháng 2 năm 1966, địch điều về huyện Long Thành - Nhơn Trạch 3 Tiểu đoàn và đưa về hàng trăm xe ủi, âm mưu ủi cắt khu vực Đồng Ông Trúc ven lộ 17 và 19.
Để tăng cường lực lượng tham chiến trên chiến trường Nhơn Trạch - Long Thành, ngày 05/7/1967, Mỹ đưa quân chư hầu Thái Lan phiên hiệu Mãng Xà Vương vào đóng quân trên địa bàn hai huyện. Tại huyện Nhơn Trạch, “địch xây dựng, phát triển thêm một số căn cứ lớn như Trung đoàn Thái Lan phiên hiệu Mãng Xà Vương đóng ở Đồng Lớn (xã Phước Thọ và xã Phước An) và căn cứ Vườn điều - Bàu Nâu sát nách căn cứ huyện ủy Nhơn Trạch; chốt Mỹ - Thái ở ngã ba Phước Thiền”.
* Về phía cách mạng: Để đối phó với chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ - ngụy, đầu tháng 4/1965, huyện ủy Long Thành và Nhơn Trạch tổ chức cho cán bộ và nhân dân học tập “Nghị quyết đánh Mỹ” của Trung ương Đảng; đồng thời chỉ đạo bổ sung thêm quân số cho lực lượng du kích ở các xã, tăng cường huấn luyện quân sự, xây dựng thế chiến đấu nhằm đứng vững trên địa bàn, tấn công địch bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) sôi nổi khắp nơi.
Ngày 25/8/1965, để hỗ trợ cho lực lượng ngụy quyền Sài Gòn, đế quốc Mỹ cho quân tiến đánh vào khu rừng Lòng Chảo. Lính Mỹ chia làm hai ngả tiến theo tỉnh lộ 17 và đường ủi Phước Lai đến bao vây tấn công khu vực Xóm Hố (xã Phú Hội). Nắm được quy luật hành quân của địch, đơn vị 245 cùng du kích ba xã: Phước Thọ, Phú Hội, Phước An triển khai trận đánh tiêu diệt 56 tên địch, làm nhiều tên khác bị thương, phá hủy 01 xe tăng, buộc chúng rút ra lộ 17.
Trước tình hình chiến trường Long Thành - Nhơn Trạch ngày càng ác liệt, các tuyến đường sông Thị Vải, Lòng Tàu trở thành đường giao thông huyết mạch để Mỹ vận chuyển thiết bị, phương tiện, nhiên liệu chiến tranh vào miền Nam Việt Nam. Đến trung tuần tháng 6/1966, Ban Chỉ huy miền quyết định thành lập Đặc khu Rừng Sác với ký hiệu T-10 (sau đổi là Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác để khỏi trùng với một tổ chức mới của Trung ương Cục miền Nam), cử đồng chí Lương Văn Nho làm Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy. Địa bàn hoạt động của T-10 gồm 10 xã thuộc nhiều tỉnh thành khác nhau: Phú Hữu, Phước Khánh (quận Nhơn Trạch), Long Sơn, Bà Trao, núi Nứu (quận Châu Đức - Bà Rịa), Lý Nhơn, Bình An (quận Nhà Bè), Đồng Hòa, Cần Thạnh, Tân Thạnh, Thạnh An, Tam Thôn Hiệp (quận Cần Giờ), trong đó xã Phú Hữu và xã Phước Khánh trở thành căn cứ để đánh phá tàu giặc trên sông Lòng Tàu và cảng Nhà Bè; xã Phước An, xã Phước Thọ làm cửa khẩu để lấy lương thực, thực phẩm, nước ngọt và kết hợp tấn công giặc ở khu rừng Lòng Chảo.
Đầu tháng 10 năm 1966, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam chủ trương sáp nhập ba tỉnh: Biên Hòa - Long Khánh - Bà Rịa lấy tên là tỉnh Long Bà Biên. Huyện Long Thành - huyện Nhơn Trạch sáp nhập thành một huyện lấy tên huyện Long Thành (Quyết định số 028/QĐ ngày 10/9/1967), đồng chí Nguyễn Văn Thông (Hai Thông) được cử làm Bí thư huyện ủy. Để tăng cường lực lượng vũ trang cho huyện Long Thành, một Trung đội của huyện được sáp nhập vào Đại đội 240 của tỉnh đóng trên địa bàn huyện (Đại đội 240 có 04 Trung đội), đồng chí Huỳnh Văn Chiến (Năm Chiến) - Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Bé (Tư Bé) - Chính trị viên. Huyện ủy chỉ thị cho các xã phải tăng cường bổ sung lực lượng du kích, lập danh sách để tiếp nhận, bổ sung nguồn vũ khí từ huyện.
Việc đế quốc Mỹ tăng cường lực lượng chư hầu Mãng Xà Vương Thái Lan tham chiến trên chiến trường, quân và dân Long Thành - Nhơn Trạch đứng trước những thử thách mới, vừa phát triển phong trào cách mạng vừa phải đánh Mỹ, diệt ngụy và quân chư hầu Thái Lan. Lực lượng Mãng Xà Vương Thái Lan đặt chân đến huyện Long Thành - Nhơn Trạch đã tổ chức nhiều trận càn vào các xã vùng ven lộ 17 và 19 gây thiệt hại cho lực lượng cách mạng. Trước tình hình đó, huyện ủy Nhơn Trạch quyết định thành lập “vành đai diệt Thái” do đồng chí Mười Thọ -huyện ủy viên trực tiếp chỉ huy. Đơn vị gồm 28 đồng chí: Đồng chí Trường - Trung đội trưởng, đồng chí Kết - Trung đội phó, đồng chí Bình - Chính trị viên. Vũ khí được trang bị gồm 3 khẩu B40, 2 khẩu M79, súng AK và ĐH10. Nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị "Vành đai diệt Thái" là bám sát theo dõi, bắn tỉa, chặn đánh kịp thời lính Thái tung quân đánh lén ta; đồng thời phân công lực lượng bao vây liên tục những chốt có quân Thái như: Vườn điều, miễu Chợ, Phước Long, chùa Phước Nhĩ”.
Ngày 10/7/1967, Trung ương Cục quyết định giải thể Khu miền Đông, thành lập 5 phân khu. Các huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, cao su Bình Sơn, Duyên Hải, Thủ Đức, quận 9 và quận 1 thuộc Phân khu 4.
Đầu tháng 12/1967, Phân khu 4 điều thêm quân số và vũ khí về huyện Long Thành và chỉ đạo cho địa phương dự trữ lương thực chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm Mậu Thân (1968).
4.3. Vài nét về Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa:
4.3.1. Tiểu đoàn 2:
Sách Long Thành những chặng đường lịch sử cho biết: “Tiền thân của Tiểu đoàn 2 là Tiểu đoàn 265 được thành lập tại xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Tháng 2/1964, Tiểu đoàn 265 được Bộ Chỉ huy Miền điều về miền Đông Nam bộ để thành lập Trung đoàn 4 và lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 2”.
Theo một số nhân chứng lịch sử: Tiểu đoàn 2 gồm 3 Đại đội, trong đó có 1 Đại đội của tỉnh Bến Tre, 1 Đại đội của tỉnh Mỹ Tho, 1 Đại đội của tỉnh Tiền Giang. Quân số Tiểu đoàn 2 hơn 500 đồng chí, trong đó có một số đồng chí được bổ sung từ miền Bắc vào tham gia chiến đấu. Đến tháng 12/1967, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 2 bao gồm: Đồng chí Bảy Sâm - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Chín Hướng - Tiểu đoàn phó, đồng chí Tám Còn - Chính trị viên.
Địa bàn đánh địch chủ yếu của Tiểu đoàn 2 là khu vực miền Đông Nam bộ, với các trận đánh nổi tiếng như: Kim Long 1, Kim Long 2, Trường bắn Vạn Kiếp… (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đã bắt trên 100 tù binh ngụy, thu nhiều vũ khí các loại.
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân (năm 1968), tình hình chiến trường ở Nhơn Trạch - Long Thành có nhiều thay đổi; một bộ phận nhỏ Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 4 chuyển qua đơn vị khác nhưng phiên hiệu Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 vẫn tồn tại đến nay.
4.3.2. Đại đội 240 Biên Hòa:
Trước tình hình chiến trường miền Đông Nam bộ có nhiều thay đổi, tháng 7/ 1961, tỉnh Biên Hòa được tách ra từ tỉnh Thủ Biên gồm: Thị xã Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu, vùng dân di cư Hố Nai, huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch và huyện cao su Bình Sơn. Nhằm đáp ứng tình hình chiến trường khi Mỹ - ngụy thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", lực lượng vũ trang của tỉnh được tổ chức lại, Đại đội 380 (C380) của tỉnh Thủ Biên nguyên là đơn vị vũ trang của tỉnh Biên Hòa trước đây tách ra và lập thành Đại đội 240 Biên Hòa (C240 Biên Hòa) với 42 đồng chí, tổ chức làm 2 Trung đội thiếu do đồng chí Phạm Văn Thương - Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Bảo - Đại đội phó, đồng chí Nguyễn Văn Bé - Chính trị viên.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Đại đội 240 Biên Hòa trở thành đơn vị vũ trang nòng cốt của tỉnh Biên Hòa, cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang khác bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng quê hương, đất nước vào mùa Xuân năm 1975.
Về mặt địa thế, chiến trường hoạt động của Đại đội 240 Biên Hòa trải dài và rộng, đồng thời bị chia cắt bởi nhiều tuyến đường, sông, rạch như quốc lộ 1, quốc lộ 15, xa lộ Biên Hòa, tỉnh lộ 24, 25, lộ 17, 19, sông Đồng Nai, sông Phước Thọ, rạch Bà Ký. Đại đội 240 Biên Hòa phải đối đầu với một lực lượng quân sự hùng hậu của địch ở Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Vùng 3 chiến thuật, Sư đoàn 10 ngụy (sau này là Sư 18 ngụy), bảo an, biệt động, dân vệ, cảnh sát, ác ôn ngụy… Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách, nhưng Đại đội 240 Biên Hòa đã mưu trí, dũng cảm, đánh nhiều trận lớn, nhỏ thu được nhiều thắng lợi to lớn.
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (năm 1968), tình hình chiến trường miền Nam có nhiều thay đổi. Để đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ mới, lực lượng vũ trang khu vực Đông Nam bộ cũng được sắp xếp, thay đổi nhằm đáp ứng thực tế chiến trường. Tháng 6/1968, Trung ương Cục miền Nam, Ban Thường vụ Phân khu 4 quyết định tách huyện Long Thành ra làm hai huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch. Đại đội 240 Biên Hòa được nâng lên thành Tiểu đoàn 240 Biên Hòa, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 240 Biên Hòa gồm: Đồng chí Nguyễn Văn Minh - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Ba Phép - Tiểu đoàn phó, đồng chí Đoàn Hy - Chính trị viên. Tiểu đoàn gồm 3 Đại đội (Đại đội 1, Đại đội 2 và Đại đội 3) với hơn 200 cán bộ, chiến sĩ. Đảng bộ Tiểu đoàn có trên 50 Đảng viên.
Trong 14 năm chống Mỹ (1961-1975), Đại đội 240 Biên Hòa, sau phát triển thành Tiểu đoàn 240 Biên Hòa, đã đánh 502 trận lớn nhỏ, tiêu diệt làm bị thương và bắt sống hàng ngàn tên Mỹ, ngụy và chư hầu Thái Lan, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch; đơn vị hy sinh 326 đồng chí (thống kê chưa đầy đủ), bị thương 119 đồng chí... Với những thành tích đạt được của đơn vị 240 Biên Hòa đã góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta làm thất bại cơ bản các chiến lược của Mỹ - ngụy như "Chiến tranh đặc biệt (1961 - 1965)", "Chiến tranh cục bộ (1965 - 1968)", "Việt Nam hóa chiến tranh (1969 - 1973)" và quân chư hầu Thái Lan trên chiến trường miền Nam Việt Nam; buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ký Hiệp định Pari (27/01/1973); góp phần to lớn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.
4.3.3. Vài nét Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại chiến trường huyện Long Thành - Nhơn Trạch năm 1967:
Sau những thất bại liên tiếp tại Vạn Tường - Quảng Ngãi (8/1965) và chiến dịch mùa khô lần thứ 1 (1965 - 1966), lần thứ 2 (1966 - 1967) tại khu vực chiến trường khu V và miền Đông Nam bộ; chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ - ngụy đứng trước nguy cơ sụp đổ.
Để duy trì thế trận trên chiến trường miền Nam, ngày 05/7/1967, Mỹ tăng cường quân chư hầu Thái Lan, phiên hiệu Mãng Xà Vương (tên gọi của một đơn vị thuộc Lục quân Hoàng gia Thái Lan mang tên Trung đoàn tình nguyện Lục quân Hoàng gia Thái Lan gồm một số phân đội bộ binh, pháo binh, thiết giáp... ) với gần 1000 quân vào tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Bước đầu, Trung đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan đóng quân ở khu vực Bé Két nằm trong khu căn cứ quân sự Nước Trong. Sau một thời gian nghiên cứu thực địa Trung đoàn Mãng Xà Vương bung ra đóng quân ở hai điểm: Một Tiểu đoàn chốt tại Héléna, nhằm án ngữ lộ 25 và quốc lộ 15 của quận lỵ Long Thành. Một Tiểu đoàn chốt ở khu căn cứ lõm phía tây lộ 15, án ngữ phía sông Đồng Nai lên. Ban Chỉ huy Trung đoàn Mãng Xà Vương đóng ở đồn Tam An (huyện Long Thành).
Trung tuần tháng 7/1967, quân chư hầu Mãng Xà Vương Thái Lan tiến hành mở rộng con đường từ căn cứ Nước Trong ra ngã ba An Lợi nối với quốc lộ 15 và xây dựng ở đây một đồn lớn do lính Thái Lan đóng giữ. Đến tháng 9/1967, quân Thái đóng thêm nhiều đồn bót: Một Tiểu đoàn đóng ở chùa Nước Nhĩ và Ngã ba đường ủi, một Tiểu đoàn xuống khu vực Phước Hòa xây dựng cụm chỉ huy mang tên Hy Răng, một Tiểu đoàn về Bình Sơn đóng ở ngã ba đi Cẩm Đường - Suối Trầu - An Viễn. Ngoài ra, địch còn dùng hàng trăm xe ủi mở rộng con đường từ ngã ba Phước Lai cắt qua khu rừng Lòng Chảo đến Vũng Gấm, Hang Nai; đồng thời, chúng cho quân đóng thêm bót tại xã Phước Long và bót Vườn điều thuộc xã Phước Thọ (nay là xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch).
Sau khi ổn định tình hình, quân chư hầu Thái Lan phối hợp quân viễn chinh Mỹ sử dụng các loại vũ khí hiện đại, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét vào căn cứ cách mạng ở Long Thành - Nhơn Trạch, gây nhiều khó khăn cho lực lượng của ta.
4.4. Diễn biến trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan ngày 20/12/1967 tại xã Phước Thọ, huyện Nhơn Trạch:
Thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 12, Đảng bộ, quân và dân Long Thành - Nhơn Trạch hạ quyết tâm cùng với quân dân miền Nam làm phá sản "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Để phát huy hiệu quả “Vành đai diệt Thái”, huyện ủy Nhơn Trạch tổ chức một đợt học tập trong cán bộ, chiến sĩ; phân công từng đồng chí xuống các xã tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về âm mưu của Mỹ - ngụy; Huyện ủy nhấn mạnh “việc đế quốc Mỹ đưa quân đội Thái Lan đến cũng không thể xoay chuyển tình hình và chính là để chết thay cho lính Mỹ”.
Đầu tháng 12/1967, nhằm phối hợp chặt chẽ với huyện Nhơn Trạch trong công tác đánh Mỹ, diệt ngụy và quân chư hầu; Ban Chỉ huy Trung đoàn 4 giao nhiệm vụ cho đồng chí Hai Phê - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, tổ chức lực lượng nghiên cứu chốt Vườn Điều tại xã Phước Thọ (huyện Nhơn Trạch, tỉnh Biên Hòa). Lực lượng nghiên cứu trận địa gồm:
- Trinh sát của Trung đoàn 4 gồm: 7 chiến sĩ do đồng chí Tâm làm Đội trưởng.
- Đại đội 240: Có 3 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Thủy làm Đội phó.
- Một số cán bộ, chiến sĩ huyện Nhơn Trạch và xã Phước Thọ: Do đồng chí Tư Lòng - Huyện đội trưởng phụ trách.
Ngày 15/12/1967, các lực lượng tiến hành nghiên cứu trận địa Vườn điều nhận thấy: Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan đóng quân tại Vườn điều - Bàu Nâu bố trí đội hình theo hình tam giác kết nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, công sự bao cát và lô cốt với diện tích khoảng 3ha; toàn bộ trận địa được bảo vệ bởi hệ thống hàng rào kẽm gai bùng nhùng. Mục đích của Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan đóng quân tại chốt Vườn Điều nhằm khống chế quân ta ở các trục đường từ đồng Mu Rùa (thuộc xã Phước An ngày nay) chạy lên Phước Thọ, Phước Long, Phú Mỹ, Phú Hội, Long Tân; đồng thời khống chế hướng Long Thành - Nhơn Trạch đi Bà Rịa - Vũng Tàu; khống chế các hoạt động của lực lượng quân và dân ta tại căn cứ địa đạo Nhơn Trạch; ngăn chặn các hoạt động của lực lượng cách mạng tại Phân khu 4, căn cứ Rừng Sác tiến công vào nội ô Sài Gòn.
Sau khi nghiên cứu bố trí công sự của Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Vườn Điều. Với quyết tâm phải đánh phủ đầu quân chư hầu Thái Lan gây áp lực tinh thần cho chúng, Bộ Chỉ huy Miền quyết định sử dụng lực lượng Tiểu đoàn 2 (đang đóng quân tại huyện Nhơn Trạch) gồm 3 Đại đội, bổ sung thêm 1 Đại đội của Tiểu đoàn 1 (vừa hành quân từ Phan Thiết vào) kết hợp Đại đội 240 Biên Hòa đánh tập kích Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Vườn điều. Mục đích:
- Góp phần làm sụp đổ chiến lược "Chiến tranh cục bộ", phá thế kìm kẹp, làm lung lay ý chí của địch và tiêu hao một bộ phận lực lượng Mỹ - ngụy, đặc biệt là lực lượng chư hầu Thái Lan tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam.
- Tăng cường vũ khí trang bị cho lực lượng cách mạng, cổ vũ tinh thần quân và dân, tạo không khí thi đua giết giặc lập công chào mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12); mở đường cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân (năm 1968).
Trung đoàn 4 giao nhiệm vụ cụ thể:
- Đồng chí Hai Phê - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1: Chỉ huy trưởng trận đánh.
- Đồng chí Chín Hướng - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2: Chỉ huy phó trận đánh.
- Đồng chí Tám Còn - Chính trị viên Tiểu đoàn 2: Bí thư Đảng ủy kiêm chính trị viên trận đánh.
Ngày 19/12/1967, Ban Chỉ huy Trung đoàn 4 thống nhất kế hoạch trận đánh trên sơ đồ; theo đó Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa dùng chiến thuật bí mật, bất ngờ tập kích, dùng hỏa lực chế áp vào các mục tiêu chủ yếu của Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan.
Khoảng 20h đêm 20/12/1967, lực lượng trinh sát điều nghiên trận địa lần cuối báo cáo địch có bố trí thêm xe tăng. Đúng giờ G đêm 20/12/1967, lợi dụng thời điểm địch tổ chức cho quân lính và sĩ quan xem phim, lệnh tập kích vào căn cứ Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Vườn Điều được thực hiện. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa chia làm ba hướng đánh vào đồn địch theo kế hoạch.
Hướng thứ nhất: Đại đội 1 do Đại đội trưởng Võ Phi Long chỉ huy, đánh theo hướng nam thẳng về hướng bắc, cặp theo đường 19.
Hướng thứ hai: Đại đội 2 do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Dũng chỉ huy, đánh từ hướng tây qua hướng đông.
Hướng thứ ba: Đại đội 3 đánh song song với hướng Đại đội 2 (từ hướng tây qua hướng đông).
Các chiến sĩ Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa dùng hỏa lực cối 82 ly, 200 trái DKZ 75, 12 trái ĐH10 bắn vào căn cứ, phá hỏng hệ thống hàng rào của địch... Sau một loạt đạn cối dọn đường, quân ta áp sát vòng vây. Nhiều chiến sĩ vượt qua hàng rào bùng nhùng, hệ thống giao thông hào tiến sâu vào bên trong nơi đóng quân của địch. Tuy nhiên, sau gần 30 phút bị quân ta tấn công bất ngờ, địch đã củng cố lại lực lượng, cùng với sự chi viện của gần 50 máy bay trực thăng từ sân bay quân sự Biên Hòa đi theo đội hình, dùng đại liên bắn từ trên cao xuống; pháo địch từ Chi khu Nhơn Trạch bắn yểm trợ, đặc biệt các xe tăng âm dưới lòng đất bất ngờ bắn vào đội hình của quân ta.
Được sự chi viện của nhiều loại vũ khí hiện đại có hỏa lực mạnh, địch tổ chức phản công quyết liệt khiến cho lực lượng của ta bị tổn thất nặng. Tại khu vực đường 19 - hướng quân ta tổ chức rút quân, địch tung pháo sáng như ban ngày để dễ dàng phát hiện, tiêu diệt lực lượng của ta nên quân ta bị tổn thất nặng.Hướng quân ta rút qua đồng lớn lại quá trống trải, địch dùng đại liên từ các xe tăng tập trung bắn mạnh buộc ta phải mở đường máu rút về khu Rạch Tượng, qua ấp Bà Trường để về căn cứ.
Sách Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai (1930 - 1995), ghi: “…hỗ trợ cho hoạt động địa phương, đêm 20 tháng 12 năm 1967, Trung đoàn 4 chủ lực quân khu đã tập kích vào cụm quân Thái Lan tại Vườn Điều (Nhơn Trạch) diệt hơn 100 tên. Đây là trận đánh đầu tiên của quân giải phóng vào quân chư hầu Thái”. Sách Long Thành những chặng đường lịch sử cho biết thêm về kết quả trận đánh: “mặc dù đã thực hiện được kế hoạch đặt ra là phá được chốt Vườn Điều, diệt gọn Tiểu đoàn lính Thái, nhưng bị bọn Mỹ đánh tập hợp, 64 chiến sĩ ta hy sinh, 173 đồng chí bị thương”.
Trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan ngày 20/12/1967 tại Vườn Điều xã Phước Thọ, huyện Nhơn Trạch, quân ta đã tiêu diệt một bộ phận lực lượng Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan, phá hủy nhiều vũ khí của địch, buộc chúng phải rút lui khỏi chốt Vườn Điều. Ngoài ra, trận đánh đã làm lung lay ý chí của địch, đặc biệt là lực lượng chư hầu Thái Lan, góp phần cổ vũ tinh thần quân và dân ta, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân (năm 1968). Tuy nhiên, về phía ta (theo thống kê chưa đầy đủ) trên 80 đồng chí thuộc Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa hi sinh (hiện nay, còn nhiều đồng chí hi sinh trong trận đánh này vẫn chưa tìm thấy hài cốt).
5. Khảo tả di tích
5. 1. Lịch sử hình thành Bia tưởng niệm
Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Nhơn Trạch, nay là khu dân cư thuộc ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch. Trong kháng chiến chống Mỹ, khu vực này thuộc ấp Bàu Nâu, xã Phước Thọ nằm trong phạm vi lòng chảo Nhơn Trạch, được nhân dân sử dụng trồng điều. Địa điểm này, xưa kia tiếp giáp với khu vực Rừng Sác thuộc huyện Long Thành, huyện Tân Thành (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và địa đạo Nhơn Trạch, tạo nên thế liên hoàn bởi hệ thống sông, rạch và rừng bạt ngàn.
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, với đà phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tỉnh Đồng Nai trở thành trung tâm kinh tế năng động của miền Đông Nam bộ và các tỉnh, thành phía Nam. Một số khu rừng, đất của huyện Nhơn Trạch, dần dần được chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Khu Vườn điều diễn ra trận đánh ác liệt giữa Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa với quân chư hầu Mãng Xà Vương Thái Lan năm xưa được thay thế bằng rừng tràm bạt ngàn, xanh ngát và dân cư khắp nơi đến đây sinh sống, trở thành một khu dân cư đông đúc thuộc ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch ngày nay.
Để ghi nhớ, tri ân và tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa đã anh dũng hi sinh trong trận chiến với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan ngày 20/12/1967 xã Phước Thọ; năm 1994, gia đình ông Đỗ Ngọc Quyền Quang ngụ tại khu đất xưa kia là chiến trường Vườn điều (nay thuộc ấp 5, xã Long Thọ) đã hiến 16m2 (diện tích 4m x 4m) cho UBND xã Long Thọ và Ban Liên lạc Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa xây dựng Bia tưởng niệm Liệt sĩ Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa.
5.2. Khảo tả di tích
Bia tưởng niệm các Liệt sĩ Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa có diện tích 16m2 (4m x 4m) tọa lạc ở khu đất bằng phẳng, có hàng rào bằng lưới B40 bảo vệ; vị trí:
- Hướng tây, giáp đường 319 (đường mới mở);
- Hướng nam, giáp rừng tràm;
- Hướng bắc, giáp phần đất của gia đình ông Đỗ Ngọc Quyền Quang;
- Hướng đông, giáp tuyến đường Hương lộ 19 (đường Hùng Vương).
Bia được xây dựng dạng hình khối chữ nhật, chất liệu bê tông giả đá (Kích thước: Cao 2,90m, rộng 1,02m, dầy 21cm); bề mặt Bia khắc chìm, nội dung: “Nơi đây, vào lúc 21 giờ ngày 20/12/1967, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 cùng với lực lượng C240 địa phương tổ chức đánh trực diện vào một Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan có cơ giới và cố vấn Mỹ. Trận đánh diễn ra 1 đêm, làm địch bị tiêu hao nặng. Về phía ta gần 80 đồng chí hy sinh và bị địch bắt do bị thương”.
6. Sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến di tích
Hàng năm, vào các ngày 25/4 (họp mặt truyền thống của Tiểu đoàn 240 Biên Hòa) và ngày 27/7 (Kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ), đặc biệt vào ngày 20/12 ngày diễn ra trận đánh ác liệt giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan, các Cựu chiến binh của Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa, khắp nơi về Bia tưởng niệm sum họp cùng đại diện các cơ quan ban, ngành của huyện Nhơn Trạch, xã Long Thọ và đông đảo bà con nhân dân địa phương tổ chức lễ dâng hương, tri ân, tôn vinh, tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc; thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam; ôn lại truyền thống hào hùng của Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ ở địa phương.
7. Sơ đồ phân bố di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích
Di tích là Bia tưởng niệm xây dựng bằng gạch, đồ thờ cúng chỉ có bát nhang, bình bông, đĩa đựng trái cây. Do di tích không thường xuyên có người trông coi nên các hiện vật nêu trên theo năm tháng bị mất mát, hư hỏng, thường xuyên thay mới. Hiện nay, hiện vật tại Bia tưởng niệm Liệt sĩ Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa chỉ có 01 bát nhang, 01 bình bông bằng gốm hiện đại nên trong hồ sơ này không tiến hành liệt kê phần hiện vật.
8. Giá trị lịch sử của di tích
- Trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Nhơn Trạch đã làm tiêu hao một bộ phận lực lượng chư hầu Thái Lan tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam, góp phần làm lung lay ý chí của kẻ thù.
- Tăng cường vũ khí trang bị cho lực lượng cách mạng, cổ vũ tinh thần quân và dân, tạo không khí thi đua giết giặc lập công; đồng thời đây là trận đánh mở đường cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân (năm 1968) tại chiến trường Long Thành - Nhơn Trạch.
- Ghi nhận công lao và sự hy sinh anh dũng của các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) thuộc Quân khu 7 và Đại đội 240 Biên Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
- Bổ sung nguồn tư liệu lịch sử quý giá, góp phần làm phong phú thêm lịch sử đấu tranh hào hùng của Đảng bộ, quân và dân huyện Nhơn Trạch, Long Thành nói riêng và tỉnh Biên Hòa - Đồng Nai nói chung trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau về truyền thống anh hùng bất khuất của những thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh tuổi xuân, xương máu cho nền độc lập và tự do của dân tộc.
9. Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di tích
Bia tưởng niệm các liệt sỹ Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa tại xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch hiện nay do Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện Nhơn Trạch, UBND xã Long Thọ và Ban Liên lạc Tiểu đoàn 240 Biên Hòa phối hợp quản lý, bảo vệ, chăm sóc.
Tại Bia tưởng niệm, hàng năm vào các ngày 25/4 (họp mặt truyền thống của Tiểu đoàn 240 Biên Hòa), ngày 27/7 (Kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ), đặc biệt vào ngày 20/12 ngày diễn ra trận đánh ác liệt giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan, các Cựu chiến binh của Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa cùng đại diện các cơ quan ban, ngành của huyện Nhơn Trạch, xã Long Thọ và đông đảo bà con nhân dân địa phương tổ chức lễ dâng hương, tri ân, tôn vinh, tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc.
Bia tưởng niệm các liệt sỹ tại xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ ở địa phương.
10. Phương hướng bảo vệ và phát huy giá trị di tích
Hiện nay, Bia tưởng niệm các Liệt sỹ Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa chỉ với quy mô nhỏ, giới hạn trong khuôn viên 16m2, chưa tương xứng với giá trị lịch sử trận tập kích của quân ta tiêu diệt Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan năm xưa; không đáp ứng được các hoạt động tổ chức dâng hương tưởng niệm các liệt sỹ có đông người tham dự. Với diện tích quá nhỏ hẹp, rất khó khăn cho địa phương xây dựng các phương án, hoạt động tuyên truyền, quảng bá về di tích và giáo dục truyền thống cách mạng cho các tầng lớp nhân dân ở địa phương.
Đầu năm 2012, thực hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, Bia tưởng niệm các liệt sỹ Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa ở xã Long Thọ đang được Huyện ủy, UBND huyện Nhơn Trạch hoàn tất hồ sơ thiết kế cải tạo, nâng cấp, mở rộng, với tổng diện tích 374,4m2. Theo hồ sơ thiết kế (đang trình cấp thẩm quyền duyệt), Bia được cải tạo, nâng cấp, mở rộng sẽ có tổng diện tích 374,4m2 (31,20m x 12m) bao gồm các hạng mục: Cổng, tường rào, Nhà bia, công trình vệ sinh, sân đường nội bộ và hệ thống cây xanh. Dự kiến công trình sẽ được khởi công xây dựng vào quý I/2013, khánh thành, đưa vào sử dụng quý II/2013.
Để bảo vệ và phát huy các giá trị di tích lịch sử Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Nhơn Trạch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị UBND tỉnh, xem xét hồ sơ khoa học ra quyết định xếp hạng là di tích lịch sử để có cơ sở pháp lý quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích này theo Luật Di sản văn hóa và các quy định hiện hành.
Sau khi được cải tạo, nâng cấp, mở rộng và được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tham mưu UBND tỉnh quyết định phân cấp di tích này về cho UBND huyện Nhơn Trạch quản lý, bảo vệ và phát huy tác dụng di tích cho thuận lợi và hiệu quả. Khi di tích được xếp hạng và phân cấp về huyện Nhơn Trạch quản lý, đề nghị UBND huyện Nhơn Trạch chỉ đạo cơ quan chức năng tham mưu, thực hiện nhiệm vụ sau:
10.1. Tổ chức bộ máy và xây dựng cơ chế quản lý
Giao Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện phối hợp với UBND xã Long Thọ thành lập Tổ quản lý di tích với sự tham gia của các cơ quan đoàn thể ở địa phương (gồm đại diện: Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện; Hội cựu chiến binh, mặt trận tổ quốc, đoàn thanh niên... của xã Long Thọ). Xây dựng nội quy, quy chế làm việc của Tổ quản lý di tích...
10.2. Đào tạo nguồn nhân lực
Quản lý, phát huy các giá trị di tích mang tính đặc thù, đòi hỏi người quản lý phải có sự hiểu biết về giá trị di tích và các quy định Nhà nước về di tích. Hàng năm, Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện Nhơn Trạch xây dựng kế hoạch cho các đối tượng trực tiếp quản lý di tích được tham gia các lớp tập huấn về nghiệp vụ bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa do các đơn vị chức năng của tỉnh mở, để làm tốt công tác tham mưu cho chính quyền ở địa phương phản lý, bảo vệ, trùng tu - tôn tạo, tuyên truyền và phát huy giá trị di tích này.
10.3. Công tác tuyên truyền quảng bá di tích:
Hàng năm, Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện Nhơn Trạch cần phối hợp với UBND xã Long Thọ thực hiện:
- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền, quảng bá di tích trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là hệ thống Đài Truyền thanh của huyện và xã Long Thọ để mọi người dân đều biết, hiểu và cùng góp sức bảo quản, chăm sóc, giữ gìn di tích.
- Xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động có ý nghĩa tại di tích nhân các ngày kỷ niệm: Họp mặt truyền thống của Tiểu đoàn 240 Biên Hòa (25/4); ngày thương binh liệt sỹ (27/7); ngày 20/12 - diễn ra trận đánh ác liệt giữa Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4, Sư đoàn 5) và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan; ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam (22/12)... với nội dung có ý nghĩa và các hoạt động phong phú thu hút nhiều đối tượng đến tham dự.
- Xây dựng kế hoạch phối hợp với phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nhơn Trạch và chính quyền địa phương ký kết chương trình hợp tác: Tổ chức cho các trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở trên địa bàn huyện... thi tìm hiểu về di tích và tích cực đăng ký thực hiện phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” bằng việc phát động thi đua chăm sóc di tích. Đây là việc làm thiết thực giúp các em học sinh hiểu biết hơn về lịch sử văn hóa ở địa phương, khích lệ tinh thần ham học, tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc.
11. Kết luận
Với giá trị, ý nghĩa lịch sử nêu trên, Địa điểm diễn ra trận đánh giữa Tiểu đoàn 2 và Đại đội 240 Biên Hòa với Tiểu đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tại Nhơn Trạch đủ tiêu chí để xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh; Ban Quản lý Di tích - Danh thắng tỉnh kiến nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, trình Thường trực UBND tỉnh ra quyết định xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh trong quý I năm 2013.
12. Tài liệu tham khảo
12.1. Tài liệu thành văn
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Long Thành (1988), Long Thành những chặng đường lịch sử, NXB Đồng Nai.
2. Lê Mậu Hãn (Chủ biên) (1999), Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 3), NXB Giáo dục.
3. Ban Chấp hành Đảng bộ ĐCSVN tỉnh Đồng Nai (2000), Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai (1930 - 1995), tập II, NXBTH Đồng Nai
4. Địa chí Đồng Nai (tập III Lịch sử) (2001), NXB Tổng hợp Đồng Nai.
5. Ban liên tạc truyền thống Tiểu đoàn 240 (2004), Tiểu đoàn 240 với đảng bộ và nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai, NXB Tổng hợp Đồng Nai.
6. Nguyễn Đình Tư (2008). Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ, NXB Chính trị Quốc gia.
7. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Long Thành (2008). Lịch sử Đảng bộ huyện Long Thành 1930 - 1975, NXBTH Đồng Nai.
8. Phan Đình Dũng và Nguyễn Thanh Lợi (2011). Hỏi đáp về Biên Hòa - Đồng Nai, NXB Đồng Nai.
9. Huyện ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ huyện Nhơn Trạch (2012), Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo về trận đánh Vườn Điều đêm 20/12/1967 tại Bàu Nâu, xã Phước Thọ, huyện Nhơn Trạch.
12.2. Nhân chứng lịch sử
- Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê (Hai phê), chỉ huy trưởng trận đánh, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4; nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4; nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, Quân khu 7, hiện cư trú tại số 226, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Thượng tá Nguyễn Văn Thủy, nguyên Đại đội phó Đại đội 240 Biên Hòa. Hiện cư trú tại địa chỉ số 519/12/2 đường 10, Kp8, phường 8, Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Thành Đồng, nguyên Trung đội trưởng Trung đội 1 thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 2, Trung Đoàn 4, Sư đoàn 5. Hiện cư trú tại địa chỉ: ấp 3, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Lâm Văn Âu thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5, hiện cư trú tại địa chỉ: ấp 1B, xã Phước Thái, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Huỳnh Văn Thành, nguyên là Tiểu đội trưởng trinh sát thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5. Hiện cư trú tại xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Văn Hùng, nguyên là Tiểu đội trưởng trinh sát thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5. Hiện cư trú tại ấp Bến Cam, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Võ Phi Long, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5. Hiện cư trú tại khu cư xá Phúc Hải, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Văn Vĩnh, nguyên là Trung đội trưởng trinh sát thuộc Đại đội 21 A, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5. Hiện cư trú tại xã Tân Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Các nhân chứng lịch sử:
- Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê (Hai phê), nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, Quân khu 7, hiện cư trú tại số 226, phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Ông Lâm Văn Âu thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5, hiện cư trú tại địa chỉ: ấp 1B, xã Phước Thái, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Hôm nay
Tổng lượt truy cập