DI TÍCH KHẢO CỔ GÒ ME
Tên di tích gắn liền với tên gọi vùng đất có nhiều cây me, một loài thực vật trước đây có nhiều trên địa bàn này.
Di tích khảo cổ Gò Me có tọa độ 10040’07” vĩ Bắc và 106051’46” kinh Đông, thuộc ấp Chính Nghĩa, xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
2.2. Đường đi đến
Di tích khảo cổ học Gò Me cách thành phố Biên Hòa khoảng 50 km. Từ UBND tỉnh Đồng Nai chạy dọc theo đường Cách mạng Tháng Tám khoảng 1,4 km rồi rẽ trái vào đường Nguyễn Thành Phương. Từ đây đi thêm 200 m và rẽ phải ở cầu Hiệp Hoà, sau đó chạy dọc theo đường Đặng Văn Trơn đến ngã tư Vũng Tàu. Từ đây chạy thẳng Quốc lộ 51 tới ngã tư giao với đường Lê Duẩn, rẽ phải đi tiếp 4,6 km rồi tiếp tục rẽ phải vào đường Phạm Văn Đồng. Sau đó đi thêm 3,7 km vào đường Lý Thái Tổ tiếp tục đi thêm 1,8 km rẽ trái vào đường Nguyễn Hữu Cảnh, đi 5,5 km rẽ phải vào đường Hùng Vương, từ đây đi khoảng 700 m nữa là tới di tích.
Hiện nay, để đi tới di tích khảo cổ Gò Me chủ yếu đi bằng phương tiện giao thông đường bộ khá thuận tiện.
Căn cứ Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá năm 2009; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa; Thông tư số 09/2011/TT - BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh xác định di tích Gò Me thuộc loại hình di tích khảo cổ.
Huyện Nhơn Trạch được thành lập năm 1994 trên cơ sở tách từ huyện Long Thành. Về vị trí địa lý huyện Nhơn Trạch nằm ở phía Tây Nam tỉnh Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km theo tỉnh lộ 25B, cách thành phố Biên Hòa 40 km theo Quốc lộ 51 và tỉnh lộ 25B. Ranh giới hành chính hiện nay gồm phía Đông giáp huyện Long Thành và giáp thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (qua sông Thị Vải); phía Tây giáp Quận 7 và huyện Nhà Bè thuộc Tp. Hồ Chí Minh với ranh giới là sông Nhà Bè. Phía Nam giáp huyện Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh với ranh giới là sông Lòng Tàu, sông Đồng Tranh, sông Gò Gia; Phía Bắc giáp thành phố Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh (qua sông Đồng Nai) và giáp huyện Long Thành. Huyện có ba mặt đều giáp sông, bao gồm sông Đồng Nai ở phía Bắc, sông Nhà Bè ở phía Tây, các con sông Lòng Tàu và Đồng Tranh ở phía Nam và sông Thị Vải ở phía Đông Nam.
Địa hình ở đây là vùng đất thấp, nằm ở hạ lưu của sông Đồng Nai. Đây là tiểu vùng địa lý khá độc đáo và mang nhiều đặc trưng của vùng sinh thái ngập mặn, giao hòa giữa vùng đồng bằng sông rạch và cửa biển của Đồng Nai. Địa hình tại đây có 2 dạng chính: đồi thấp và đồng bằng ven sông. Ở dạng đồi thấp: phân bố tập trung ở khu vực phía Đông Bắc của huyện, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 10 - 30 m (cao nhất 32 m). Độ dốc phổ biến từ 3 - 50 m, tiêu thoát nước tốt, nền móng tốt, rất thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các khu công nghiệp. Vùng này chiếm khoảng 30,7% diện tích tự nhiên của toàn huyện. Ở dạng đồng bằng ven sông: vùng này chiếm khoảng 52,3% tổng diện tích tự nhiên, có thể phân thành 3 khu vực nhỏ: khu vực phía Bắc, khu vực thủy lợi Ông Kèo, khu vực phía Nam. Huyện Nhơn Trạch nằm trong vùng có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Huyện Nhơn Trạch có cảnh quan và môi trường sinh thái thuận lợi là vùng đệm giữa hai hệ sinh thái tự nhiên gồm vùng thấp trũng ngập mặn phù sa mới và vùng cao phù sa cổ có mạch ngầm, suối phun nước ngọt nên cư dân tại chỗ có thể khai thác nguồn tài nguyên phong phú, lượng sản vật đa dạng, dồi dào thích hợp cho việc cư trú, sản xuất. Một loạt các di chỉ cư trú - xưởng thủ công của cộng đồng cư dân tại chỗ tạo lập trong thời đại kim khí có phạm vi rộng lớn được khảo cổ học khám phá như: di chỉ Cái Vạn, di chỉ Cái Lăng (xã Long Thọ); di chỉ Rạch Lá (xã Phước An); di chỉ Gò Me (xã Vĩnh Thanh)… có niên đại đoán định vào khoảng 3.000 - 2.500 năm cách ngày nay, thuộc loại các di tích sớm trong vùng đất ngập mặn Rừng Sác - Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai.
Cho đến nay, khảo cổ học đã phát hiện nhiều di tích văn hóa thời đại kim khí trong vùng đất ngập mặn tại Nhơn Trạch như Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá, Gò Me, Ngọn Mặt Trời, Gò Ông Năm, Miếu Bà Tám, Rạch Ông Kèo, Rạch Lá II, Bến Cá Sình… Sau nhiều đợt khảo sát, đào thăm dò có 4 di tích đã được khai quật Cái Vạn, Cái Lăng (xã Long Thọ), Rạch Lá (xã Phước An), Gò Me (xã Vĩnh Thanh). Thông qua kết quả từ các cuộc khai quật tại các di chỉ này cho thấy, những lớp cư dân tại đây từng bước thích ứng với môi trường (làm nhà sàn trên vùng ngập nước), ngoài phương thức kinh tế săn bắn, hái lượm, cư dân cổ còn biết đến nghề nông (làm ruộng), nghề đánh bắt thuỷ hải sản, các nghề thủ công làm đồ đá, làm gốm, dệt vải, đúc đồng, nghề mộc.
- Di tích Cái Vạn: thuộc ấp 3, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, nằm ven các bờ rạch Cái Vạn, Ông Hỷ, Cây Khô, đổ ra sông Thị Vải. Diện phân bố khoảng 3ha, có tọa độ 10042’14’’ vĩ bắc và 106008’00’’kinh đông. Năm 1897, Hamy E.T. đã công bố phát hiện di tích này, sau năm 1975 nhiều đoàn khảo cổ học đến điều tra, khảo sát tại đây. Di tích được khai quật vào các năm 1978 (Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Trung tâm nghiên cứu khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại tp. Hồ Chí Minh và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), 1996 (Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Trung tâm nghiên cứu khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại tp. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn tại Hà Nội và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) với tổng diện tích đã khai quật là 218 m2 (năm 1987: 100 m2, năm 1996: 118 m2). Tầng văn hóa dầy trung bình từ 0,40 m đến 0,80 m và thu được nhiều hiện vật bằng chất liệu đá như rìu, cuốc, chày nghiền, dao hái, giáo, khuôn đúc...; hiện vật bằng chất kim loại gồm rìu, giáo, lưỡi câu...; hiện vật bằng chất liệu gỗ gồm rìu, cọc và ván nhà sàn, hiện vật bằng đất nung gồm mảnh gốm ghè tròn, bàn xoa, bi, nhiều mảnh vỡ của các loại hình đồ đựng như bình, nồi, bát bồng... Niên đại phóng xạ C14 cho kết quả 3360 + 80 năm cách ngày nay.
- Di tích Cái Lăng: thuộc xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, cách di tích Cái Vạn khoảng 2km về phía đông, nằm giữa rạch Cái Lăng và rạch Bến Miểu, có tọa độ 10042’12’’ vĩ tuyến và 106058’00’’kinh tuyến. Di tích được phát hiện vào năm 1977, diện phân bố khoảng 3ha. Di tích được khai quật vào năm 2000 (Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Trung tâm nghiên cứu khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại tp. Hồ Chí Minh và Viện Khảo cổ học Việt Nam) với diện tích 152m2, năm 2003 (Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại tp. Hồ Chí Minh). Hiện vật thu được gồm: công cụ đá có rìu, cuốc các loại, chày nghiền, bàn mài, khuôn đúc, vòng đeo tay, hạt chuỗi, mảnh khuyên tai, hòn ghè; đồ gốm có bàn xoa, bi, dọi se sợi, và nhiều mảnh vỡ đồ đựng như nồi, bát bồng, cà ràng; đồ gỗ có công cụ, nhiều cọc nhà sàn. Niên đại phóng xạ C14 cho kết quả 3260 + 70 năm cách ngày nay. Tầng văn hóa dầy trung bình 0,30 m đến 0,30 m.
- Di tích Rạch Lá: thuộc ấp Quới Thạnh, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, nằm ven rạch Cốc Nhỏ, một nhánh của Rạch Lá, cách di tích Cái Lăng 12km và di tích Cái Vạn 14km vế phía đông bắc. Diện phân bố rộng khoảng 3,2 ha, có tọa độ 10039’27’’ vĩ tuyến và 106053’22’’kinh tuyến. Năm 1999, di tích được điều tra phát hiện và tháng 2 năm 2002, Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tổ chức khai quật trên diện tích 103m2. Tầng văn hóa dầy trung bình 0,30 m, di vật thu được gồm nhiều loại hình: công cụ đá có rìu, cuốc các loại, đục, phế vật công cụ, chày nghiền, bàn mài, chì lưới, mảnh đá kêu, đá nguyên liệu; đồ gốm có mảnh bếp lò, bi, mảnh vỡ đồ đựng; đồ gỗ có công cụ (rìu, cuốc) và nhiều cọc nhà sàn. Niên đại phóng xạ C14 cho kết quả 3790 + 60 và 4520 + 95 năm cách ngày nay.
Từ kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học, kết hợp với quan sát cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái xưa - nay, bước đầu phác họa đôi nét về lịch sử - văn hóa vùng đất Nhơn Trạch là khu vực cư trú ngập mặn, chịu ảnh hưởng của thủy triều trực tiếp hay gián tiếp. Tầng văn hóa ở các di tích chỉ khoảng 0,40m- 0,50 m, nhưng trong đó chứa đầy mảnh gốm và các hiện vật đá, đồng, gỗ, xương răng động vật … cho thấy đây là dấu tích của những làng cổ. Trong quá trình cư trú, cư dân cổ ở đây chế tác và sửa chữa công cụ ngay tại chỗ với bằng chứng là nhiều đá nguyên liệu và bàn mài. Căn cứ vào sự phân bố của di vật cho phép nhận định các làng cổ Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá đều có phạm vi phân bố khá rộng nhưng không liền khoảnh với nhau mà theo từng cụm riêng biệt và chỉ tập trung ở một số khu vực có thế đất cao, ít bị ngập nước.
Cùng với dấu tích trên những cọc gỗ, thanh gỗ, ván gỗ được khảo cổ học phát lộ tại chỗ trong các di tích cho thấy cư dân ở đây đã lựa chọn cho mình lối cư trú tương thích với môi trường bấy giờ là đóng cọc gỗ làm móng, dựng nhà sàn trên cọc, vừa tránh được ẩm thấp, lầy lội vừa ổn định chỗ ở.
Cùng với sự kiến lập nơi cư trú, cư dân thời bấy giờ đã triển khai các hoạt động kinh tế và đã có các ngành nghề nổi bật như nghề làm đồ đá, nghề chế tạo khuôn và đúc đồng, nghề làm đồ gốm, nghề mộc, dệt vải, nghề nông, nghề đánh bắt thủy, hải sản v.v... Tại đây, cư dân cổ đã biết tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có là gỗ để chế tạo nên một tổ hợp công cụ thích ứng với phương thức làm ăn mới như khai thác sản vật đầm lầy, ven biển… Có thể nói, đó là sự sáng tạo mang tính đặc thù của cư dân vùng đất ngập mặn.
Các chỉ số niên đại C14, những đặc điểm ghi nhận từ sưu tập di vật và những dữ liệu về địa sử học hầu như đều phù hợp với khung niên đại chung cho các di tích văn hóa kim khí ở vùng này vào khoảng 3.500 – 2.000 năm cách ngày nay. Với khung niên đại này, khảo cổ học đã khám phá một quần thể di tích có niên đại vào loại sớm nhất trong vùng đất ven biển Đông Nam Bộ nói chung, vùng ngập mặn nói riêng.
Di tích khảo cổ Gò Me thuộc ấp Chính Nghĩa, xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, phát hiện vào tháng 4 năm 2004 trong quá trình khảo sát thực hiện đề tài “Văn hóa khảo cổ thời đại kim khí vùng đất ngập mặn ở Đồng Nai” và được nhận định có diện phân bố rất rộng. Nhiều mảnh gốm cổ xuất lộ trên bề mặt rộng khắp gò cát với diện tích khoảng 10 ha. Tại một số hố do nhân dân địa phương đào lấy cát hoặc đào móng xây nhà đều có thể quan sát thấy rõ tầng văn hóa trên vách các hố đào.
Qua các dấu vết đã phát hiện cho thấy đây là di tích khảo cổ có quy mô lớn, chứa đựng nhiều tư liệu cần được khai quật và nghiên cứu nhằm góp thêm tư liệu khoa học mới trong việc nghiên cứu về lịch sử vùng đất con người của huyện Nhơn Trạch.
Năm 2008, trong chương trình nghiên cứu quốc tế về “Quá trình hình thành các nền văn minh sớm ở Nam bộ qua tài liệu khảo cổ học, kinh nghiệm nghiên cứu Khảo cổ học Trung Á và văn hóa Kushan ở Nga”, Viện Lịch sử Văn hóa vật chất (Viện Hàn lâm Khoa học Nga tại Saint Petersburg), Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ đã khảo sát lại di tích khảo cổ Gò Me. Đoàn đã mở một hố thám sát cách hố đào năm 2004 khoảng 40m thu được một số công cụ đá và mảnh gốm trong địa tầng dầy 20cm - 50cm. Các nhà khảo cổ nhận định địa bàn cư trú ở di tích khảo cổ Gò Me gần gũi với các làng cổ ven sông Thị Vải và làng cổ trên cọc nhà sàn vùng ngập mặn Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tháng 7 năm 2004, Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Trung tâm khảo cổ học, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ tổ chức khai quật di tích khảo cổ Gò Me lần thứ nhất theo Giấy phép khai quật số 1632/QĐ - BVHTT ký ngày 27 tháng 05 năm 2004 của Bộ Văn hóa - Thông tin do Bảo tàng Đồng Nai là cơ quan chủ trì, TS. Phạm Quang Sơn chủ trì khai quật. Cuộc khai quật được thực hiện trong khuôn khổ chương trình đề tài: “Văn hóa khảo cổ thời kim khí vùng đất ngập mặn ở Đồng Nai”.
Đợt khai quật diễn ra từ ngày 16 tháng 7 năm 2004 đến ngày 19 tháng 08 năm 2004 với việc thực hiện đào 6 hố thám sát và 3 hố khai quật với tổng diện tích 204 m2 trong khu vực tổ 5, ấp Chính Nghĩa, xã Vĩnh Thanh. Ngoài ra, đoàn khai quật cũng mở một hố thám sát khác trên Gò Huyện Hầu (ấp Thành Công, xã Vĩnh Thanh), cách Gò Me khoảng 400 m về hướng Tây Bắc.
Phương pháp sử dụng trong lần khai quật này là điểm mốc - cao độ chuẩn, chia ô nhỏ 2 m x 2 m, đánh ký hiệu A, B, C, D, E từ Bắc xuống Nam, đánh số từ 1 - 5 theo hướng từ Đông sang Tây và xử lý bóc tách theo từng lớp đào 10 cm mỗi lớp. Để thuận tiện trong việc tra cứu, các mô tả liên quan đến màu sắc đất trong các hố khai quật và hố thám sát đoàn đã sử dụng kết quả so sánh với biểu đồ màu đất Munsell.
Lần khai quật thứ nhất đã thu được tổng cộng 297 hiện vật với nhiều chất liệu đá, đồng, sắt, xương, đất nung... và được phân loại theo các nhóm loại hình: công cụ bằng đá, công cụ bằng kim loại, công cụ bằng xương, đồ trang sức, xương răng thú, đồ gốm và đất nung cùng số lượng lớn các mảnh vỡ của các loại hình đồ đựng (29.674 mảnh) thu thập được trong các hố khai quật và thám sát tại di tích Gò Me và Gò Huyện Hầu. Qua nghiên cứu tầng văn hóa và loại hình hiện vật các nhà khảo cổ đã xác định di tích khảo cổ Gò Me thuộc loại hình cư trú, công xưởng sản xuất và mộ táng.
Tháng 9 năm 2019, trong chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Bảo tàng Đồng Nai (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai) và Trung tâm Khảo cổ học (Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ) đã tiến hành cuộc khai quật khảo cổ học tại di tích Gò Me lần thứ hai theo giấy phép số 2801/QĐ-BVHTTDL ngày 13 tháng 08 năm 2019. Người chủ trì khai quật là CN. Nguyễn Thị Tuyết Trinh. Đợt khai quật diễn ra từ ngày 15 tháng 9 năm 2019 với 2 hố thám sát (TS1 và TS2) và 2 hố khai quật (H1 và H2) có tổng diện tích là 35 m2 được mở ở hai khu vực phía Bắc và phía Tây của Gò Me. Riêng khu vực có di tích mộ táng ở phía Nam Gò Me không thể liên hệ với chủ đất để mở hố khai quật. Mục tiêu của cuộc khai quật nhằm xác định lại không gian phân bố di tích, thông qua tư liệu khảo cổ xác định giá trị lịch sử tại vùng đất này, đồng thời tiến hành lập hồ sơ phân loại di tích.
Phương pháp sử dụng trong đợt khai quật lần này lần này là điểm mốc - cao độ chuẩn. Đoàn công tác đã cố gắng định vị lại các góc hố khai quật H2 (năm 2004) và độ cao giả định rồi tiến hành đúc cột mốc bằng xi-măng tại vị trí điểm 0 giả định. Từ đó tạo sự thuận tiện cho việc kết nối tư liệu giữa hai cuộc khai quật các năm 2004 và 2019. Phương pháp khai quật được áp dụng theo bối cảnh khảo cổ (context), xử lý bóc tách theo từng lớp đất có tính chất, màu sắc khác nhau, kết hợp với các lớp đào 10 cm trong mỗi bối cảnh. Để thuận tiện trong việc tra cứu, các mô tả liên quan đến màu sắc đất trong các hố khai quật được sử dụng từ kết quả so sánh với biểu đồ màu đất Munsell.
Cuộc khai quật đã thu được tổng cộng 161 hiện vật đa dạng trên các chất liệu: đá, thủy tinh, xương, gốm - đất nung cùng 146.254 mảnh gốm được chia thành 2 loại gốm theo chất liệu: gốm pha cát và gốm pha bã thực vật. Đặc biệt, phát hiện 2 hạt chuỗi nhỏ trong hố khai quật trong đó có 01 hạt chuỗi thủy tinh, là dấu hiệu cho thấy khả năng đã có những quan hệ giao lưu văn hóa - thương mại tại vùng đất này.
Qua nghiên cứu địa tầng và di vật phát hiện trong lần khai quật thứ hai đã có thể đoán định cư dân cổ Gò Me sinh sống tại đây qua nhiều giai đoạn khác nhau và kéo dài từ khoảng 3.000 đến hơn 2.000 năm cách ngày nay. Có thể chia thành 2 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn cư trú sớm: tương ứng với khu vực khai quật ở phía Bắc khu gò cát, niên đại khoảng 3.000 - 2.700 năm cách ngày nay.
+ Giai đoạn muộn: tương ứng với khu vực khai quật tại trung tâm gò cát và các phát hiện di tích mộ táng năm 2004, có niên đại khoảng 2.700 - 2.300 năm hoặc muộn hơn là đến 2.000 năm cách ngày nay.
Về niên đại cụ thể của di tích khảo cổ Gò Me, thông qua nghiên cứu bằng phương pháp so sánh và phương pháp xác định niên đại Carbon 14 (C14) đã đưa ra các kết quả cụ thể như sau:
- Niên đại sớm nhất của di tích khảo cổ Gò Me được thể hiện qua đặc trưng của tổ hợp công cụ rìu bôn, đục, dao hái bằng chất liệu đá mang kỹ thuật chế tạo giai đoạn sớm ở Nam bộ và gốm làm từ sét pha cát hạt thô hoặc mịn, đôi khi có trộn thêm vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ. Hai mẫu C14 được gửi đến Trung tâm Hạt nhân tại Tp. Hồ Chí Minh và Viện Khảo cổ học tại Hà Nội phân tích và cho kết quả là 2.690 ± 80 BP và 2.910 ± 55 BP, ghi nhận mốc di cư đầu tiên và cư trú muộn nhất của cư dân có thể khoảng 3.000 - 2.700 năm cách nay.
- Giai đoạn muộn của di tích khảo cổ Gò Me được thể hiện qua đặc trưng gốm bở có thành phần chủ yếu là sét pha nhiều bã thực vật xuất hiện rất nhiều ở vùng ngập mặn Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Giờ và Rạch Núi và là loại chất liêu chuyên dụng làm đồ đựng chứa nước và thực phẩm. Giai đoạn này tương ứng với đồ đồng - sắt có mặt ở Gò Me, niên đại C14 của mẫu than thứ hai ở Viện Khảo cổ học cho kết quả 1.820 ± 60 BP có thể tương ứng diễn trình cư trú 2.700 - 1.800 năm cách nay ở Gò Me.
Qua nghiên cứu địa tầng và di vật của cuộc khai quật di tích khảo cổ Gò Me năm 2019 các nhà khảo cổ thống nhất với quan điểm về niên đại đã xác định năm 2004. Tại khu vực di tích Gò Me đã có sự cư trú của người cổ từ khoảng 3.000 năm cách ngày nay tương ứng với giai đoạn Hải xâm Holocen 2 (năm 1.150 – 850 BC) với mức nước + 0.3 m so với hiện nay. Các nhà khoa học phán đoán có thể vào thời điểm đó khu vực này nằm không xa bờ biển cổ. Tiếp sau đó, tương ứng với giai đoạn cư trú muộn tại Gò Me là quá trình Hải thoái Holocen 2 (năm 850 - 200 BC) với mức nước thấp nhất -1 m so với hiện tại.
Về chủ nhân của di tích, thông qua kết quả nghiên cứu di cốt người cổ tại di tích khảo cổ Gò Me (Đồng Nai), các nhà khoa học đã có những kết luận về loại hình chủng tộc của cư dân Gò Me: Thứ nhất, người cổ Gò Me có nhiều khả năng gần gũi với người cổ Đông Sơn (nhóm loại hình Đông Nam Á) và người Việt, nhưng cách xa với người cổ Đông Sơn (nhóm loại hình Indonesien) và người Khmer. Thứ hai, thông qua răng của người cổ Gò Me với các kích thước răng của cư dân khác thì có thể thấy rằng răng người cổ Gò Me có nhiều đặc điểm giống với răng của cư dân thuộc chủng tộc Mongoloid.
Thông qua những hiện vật thu thập được cũng như căn cứ trên nguồn gốc địa hình và các dữ kiện lịch sử, các nhà khoa học cho rằng di chỉ Gò Me là địa bàn cư trú, công xưởng làm gốm và mộ táng của người cổ trên vùng giồng cát khu vực ngập mặn. Niên đại 3.000 năm đến 2.000 năm cách ngày nay.
- Tính chất cư trú của di chỉ được khẳng định khi trong đợt khai quật năm 2004 đã phát hiện nhiều di vật bằng các chất liệu: đá, đồng, sắt, xương, đất nung,… tầng văn hóa tuy không dày nhưng vẫn thể hiện các hoạt động sống hàng ngày của cộng đồng người cổ. Tuy nhiên, do các yếu tố khách quan, chưa thể phân định được vị trí của các kiến trúc nhà cửa, bếp nấu ăn hay những đống rác phế thải.
Đợt khai quật năm 2019 qua những ghi nhận về diễn biến địa tầng tại các vách tại hố khai quật H2 và hố thám sát TS1, thám sát TS2 cho thấy giai đoạn phát triển với tầng văn hóa mỏng. Tuy tầng văn hóa không dày nhưng khu vực này ghi nhận dấu vết cư trú rõ nét với những đồ dùng sinh hoạt như rìu đá, những mảnh gốm vỡ. Kết quả sàng lọc trong tầng văn hóa cho thấy nhiều nguồn thực phẩm phong phú như: cá, một số loài động vật và thực vật được dùng làm thực phẩm. Đây là bằng chứng cho thấy khu vực Gò Me là nơi khá thuận lợi cho việc cư trú của cư dân cổ.
- Tính chất công xưởng làm gốm: Đợt khai quật năm 2004 đã phát hiện trong hố khai quật H2 mật độ tập trung gốm vỡ cao, những sàn đất màu đỏ, hồng loang lổ những vết đen do bị nung cháy và đặc biệt những lớp đất sét có tích tụ thành gò, đã chứng tỏ nơi đây từng tồn tại một công xưởng làm gốm. Đất sét vốn không có trên gò cát và được lấy từ nơi khác về, dùng dự trữ cho việc làm gốm. Đồ gốm nặn bằng tay và nung ngoài trời ngay gần khu vực làm gốm. Trong đợt khai quật năm 2019 ở khu vực trung tâm Gò Me, diễn biến các lớp văn hóa đã cho thấy dấu tích hố khai quật H1 là nơi sản xuất gốm với mật độ tập trung mảnh vỡ nhiều. Đồ gốm đa phần được nặn bằng tay và có thể được nung ngoài trời.
Đặc biệt tại di tích khảo cổ Gò Me hiện vật chày nghiền được các nhà khoa học đánh giá ngoài những chức năng thông dụng, có thể còn được sử dụng thường xuyên để nghiền thổ hoàng cung cấp cho nghề làm gốm.
Bên cạnh đó, các công cụ bằng kim loại, trong khu vực hố thám sát 6 đã phát hiện những hiện vật rìu đồng là bằng chứng cho thấy cư dân ở đây đã có nghề luyện kim, đúc đồng. Tuy nhiên, rìu đồng có lẽ vẫn là một báu vật, được chế tạo riêng để chôn theo người chết.
- Tính chất mộ táng: Đợt khai quật năm 2004 đã phát hiện 4 mộ táng trong đó có 2 ngôi mộ có di cốt người còn khá nguyên vẹn.
+ Mộ 1 ký hiệu 04GMTS6-M1: nằm phía Bắc hố đào, tại vị trí sát giữa vách Bắc, sâu 35 cm - 50 cm. Người chết được chôn trong tư thế nằm ngửa, đầu hơi cao quay về hướng Tây Bắc, chiều dài hài cốt từ đỉnh sọ xuống xương ngón chân là 178 cm. Hộp sọ bị hủy hoại nhiều, thân nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và thấp dần về chân. Gần bàn tay phải có vài đốt xương móng heo, có khoảng ba thỏi đất nung hình trụ tròn và các mảnh gốm vỡ xung quanh.
Di cốt là của người đàn ông, khoảng 25 - 30 tuổi, cao 159 cm, gồm xương sọ bị vỡ thành 101 mảnh sau khi phục chế thu được một hộp sọ bị mất phần trước chỉ còn lại toàn bộ xương chẩm, xương thái dương trái, xương đỉnh trái thiếu một phần nhỏ phía trước. Xương thái dương phải và đỉnh phải còn lại phần nhỏ; xương hàm dưới trái còn lại gần một nửa, trên đó dính lại 3 răng cối lớn. Di cốt còn giữ lại được 22 đốt sống trong đó có 7 đốt sống cổ, 10 đốt sống lồng ngực và 5 đốt sống thắt lưng.
+ Mộ 2 ký hiệu 04GMTS6M2: gần vách Nam, ở độ sâu 40 cm - 42cm. Người chết được chôn trong tư thế nằm thẳng, ngửa, hơi nghiêng về bên trái, hướng Đông Nam - Tây Bắc, đầu quay về hướng Đông Nam. Di cốt được bảo quản khá nguyên vẹn. Hộp sọ bị vỡ mất một vài mảnh ở chỏm, mặt hơi quay về bên trái, hai cánh tay để song song với thân người, xương bàn tay phải đặt trên xương đùi phải trong khi bàn tay trái nằm phía dưới bị xương chậu đè lên. Hai chân duỗi thẳng, đầu gối hơi co về bên trái, hai bàn chân khép sát nhau như đã chồng lên nhau hay bị bó lại trước khi chôn. Độ dài hài cốt, từ đỉnh sọ đến hết các ngón chân đo được trên hiện trường là 170 cm.
Toàn bộ di cốt nằm trong lớp đất sét pha cát màu xám nâu, biên mộ không thể xác định được. Người chết được đặt nằm ngang trên một bề mặt khá bằng phẳng, đáy mộ là bề mặt sinh thổ. Trước khi chôn cất người chết, đáy mộ được rải nhiều mảnh gốm vỡ, nhiều vật tùy táng được chôn theo, dưới hộp sọ và vùng cổ thấy có nhiều xương thú nhỏ và xương cá, một mũi lao có ngạnh bằng xương đã được phát hiện trong khu vực này. Ở vị trí hai bàn tay có nhiều xương móng heo. Trên hộp sọ, bên cạnh và phía dưới xương gò má trái tìm được hai hạt chuỗi dường như đã được đeo ở tai người chết, dưới xương cánh tay trái phát hiện một rìu đồng. Bên trên hài cốt, đặc biệt ở vùng bụng và chân có nhiều mảnh gốm phủ lên
Di cốt của người nam thanh niên khoảng 17 tuổi, cao 157 cm, gồm xương sọ bị mất phần trán và các mảnh trung gian, xương hàm trên và hàm dưới còn khá nguyên vẹn, còn giữ được 7 đốt sống cổ và 17 đốt sống khác. Các xương khác như: xương đòn, xương cánh tay, cổ tay, bàn tay, xương chậu, xương đùi... còn khá nguyên vẹn.
+ Mộ 3 ký hiệu 04GMH1M1: nằm ở vị trí ô A2, hố khai quật 1, ở độ sâu 90 cm. Hài cốt đã bị phân hủy gần hết, chỉ còn lại một vài mảnh xương sườn. Bên cạnh còn thấy có nhiều mảnh vỡ của một rìu đồng và những mảnh gốm vụn.
+ Mộ 4 ký hiệu 04GMH1M2: nằm ở các ô D5 - E5, hố khai quật 1, ở độ sâu 1 m. Hài cốt đã bị phân hủy gần hết, chỉ còn lại một vài mảnh xương và những mảnh vỡ của một lưỡi rìu đồng.
Đây là phát hiện mới có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu thời kỳ tiền sử lưu vực sông Đồng Nai nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng. Qua phát hiện này, diện mạo, hình thái sinh lý người cổ từng là chủ nhân văn hóa Đồng Nai dần được phác họa từ vóc dáng chiều cao, tuổi thọ trung bình cho đến lạo hình nhân chủng. Đồng thời bước đầu nhận diện tập quán xã hội của người cổ Gò Me thể hiện qua táng thức, táng tục trong các mộ táng ở đây. Đồng thời việc phát hiện 2 mộ táng trong hố thám sát 6 có diện tích 8 m2 cho thấy trên địa bàn di tích khảo cổ Gò Me còn không ít mộ cổ với mật độ khá dày đặc. Đây là cơ sở tư liệu quý báu để nghiên cứu nền văn hóa cổ bản địa.
Cho đến nay, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tại di tích khảo cổ Gò Me là không có.
Gò Me là một giồng cát nổi cao khoảng 1,6 m - 1,8 m so với vùng ruộng thấp xung quanh, có dạng một dải đồi cát hẹp, bề ngang chỉ rộng trên dưới 100 m, kéo dài khoảng 1km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nằm trọn trong khu vực tổ 5, ấp Chính Nghĩa, xã Vĩnh Thanh, có diện tích khoảng 10 ha. Một đường mòn chạy dọc trên đỉnh gò theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hai bên là nhà dân xen kẽ trong những khu vườn trồng cây ăn trái như bưởi, xoài, hoặc canh tác theo từng vụ như trồng bí. Trên khu vực gò có ba tuyến đường dây điện cao thế 500 kv và 220 kv Phú Mỹ - Nhà Bè, Phú Mỹ - Phú Lâm được kéo ngang qua.
Gò Me cách Hương lộ 19 khoảng 500 m về hướng Bắc, cách rạch Ông Kèo khoảng 800 m về hướng Tây Nam. Tại đây có một con suối nhỏ chảy vào chân gò thường được người dân gọi là Rạch Giồng hay Rạch Miễu.
Địa hình của gò tương đối bằng, thấp ở xung quanh và cao dần lên đỉnh gò. Qua hai lần khai quật tại di tích khảo cổ Gò Me, địa tầng chia thành 2 khu vực chính:
+ Khu vực 1 tại trung tâm gò nơi mở các hố khai quật 2 (2004), hố khai quật 1 (2019), địa tầng gồm các lớp:
Lớp 1: dày từ 0,0 m đến 0,40 m là lớp đất canh tác, thành phần chủ yếu là cát, màu nâu sậm, hơi đỏ (3/3 5YR).
Lớp 2: dày từ 0,40 m đến 0,60 m là lớp đất cát, màu nâu sậm nhưng hơi đỏ hồng hơn so với lớp 1 (4/3 5YR). Trong lớp này có nhiều rễ cây lớn, hiện vật xuất hiện nhiều.
Lớp 3: dày từ 0,60 m đến 1,05 m là lớp đất cát và mùn, màu nâu đen (3/1 5YR), chứa nhiều hiện vật.
Lớp 4: dày từ 1,05 m đến 1,45 m là lớp đất cát thuần, mịn, bở rời, sạch và có màu vàng sáng (6/4 5YR) xen kẽ nhiều đá cát kết hạt nhỏ (3-7 cm), không có hiện vật văn hóa.
Tại khu vực này có thể là nơi sản xuất gốm với mật độ tập trung mảnh vỡ nhiều, những nền đất màu đỏ cứng có thể là dấu hiệu do bị nung cháy. Đồ gốm ở đây đa phần có được từ việc nặn bằng tay và có thể được nung ngoài trời
+ Khu vực 2: khu vực thấp gần rìa chân gò, địa tầng chia thành các lớp:
Lớp 1: dày từ 0,0 m đến 0,35 m là lớp đất canh tác, thành phần chủ yếu là cát màu nâu xám đen, hơi đỏ (3/2 5YR).
Lớp 2: dày từ 0,35 m đến 0,65 m là lớp đất cát, màu nâu hồng hơn so với lớp 1 (4/3 5YR). Trong lớp này có nhiều rễ cây lớn, hiện vật xuất hiện nhiều.
Lớp 3: dày từ 0,65 m trở xuống là lớp sinh thổ, đất cát và mịn, bở rời, sạch và có màu vàng sáng (5/6 5YR) xen kẽ nhiều thạch anh hạt to.
Tuy có khác nhau về địa tầng nhưng giữa hai lớp không có lớp vô sinh cho thấy cư dân cổ Gò Me cư trú liên tục và chia thành 2 giai đoạn sớm (lớp 3 vùng 1) - muộn (lớp 2 vùng 2).
Sau các đợt khai quật, các hố thám sát và khai quật tại di tích khảo cổ Gò Me đều được lấp đất san bằng bảo tồn tầng văn hóa, trả về nguyên trạng di tích.
Sau các đợt khảo sát, thăm dò và khai quật khảo cổ, các hiện vật phát hiện tại di tích khảo cổ Gò Me đã được chỉnh lý, đánh số thứ tự và lưu giữ tại Bảo tàng Đồng Nai để phục vụ công tác lưu trữ, trưng bày, nghiên cứu và học tập.
CHẤT LIỆU |
LOẠI HÌNH | SỐ LƯỢNG | |
| NĂM 2004 | NĂM 2019 | ||
Đồ đá | Rìu bôn | 23 | 1 |
| Mảnh thân rìu | 1 | ||
| Đục | 10 | 1 | |
| Bàn mài | 46 | 8 | |
| Dao hái | 2 | ||
| Giáo | 2 | ||
| Bàn nghiền | 1 | ||
| Khuôn đúc | 1 | ||
| Chày nghiền | 4 | ||
| Phế vật công cụ | 48 | ||
| Mảnh tước, nguyên phế liệu | 27 | ||
| Trang sức vòng tay, lõi vòng, chuỗi | 5 | 2 | |
| Mảnh vòng | 1 | ||
Đồ Kim loại | Rìu đồng | 4 | |
| Lao sắt | 1 | ||
| Vòng đồng | 1 | ||
| Lục lạc đồng | 1 | ||
Gốm và đất nung | Bi | 7 | |
Gốm ghè tròn, tam giác | 18 | 1 | |
| Gốm hình trụ tròn | 48 | ||
| Cà ràng | 15 | 1 | |
| Bàn xoa | 4 | 3 | |
| Nồi | 3 | 1 | |
| Vòng đeo tay | 2 | ||
| Hạt chuỗi | 1 | ||
| Mảnh vỡ gốm | 131 | ||
| Bình gốm | 1 | ||
| Chân đế | 5 | ||
Đồ Xương | Di cốt rùa, cá | 22 | |
| Lao | 2 | ||
| Xương | 2 | ||
| Thủy Tinh | Hạt chuỗi | 1 | |
Qua kết quả từ các lần khai quật, thông qua những hiện vật thu thập được cũng như căn cứ trên nguồn gốc địa hình và các dữ kiện lịch sử, các nhà khoa học đã thu thập được khá nhiều thông tin về các loại hình di tích ở Gò Me. Đây vừa là di tích cư trú, công xưởng làm gốm và đồng thời là khu mộ táng của người cổ trên vùng giồng cát khu vực ngập mặn.
Những hiện vật thu thập được đa dạng, phong phú, đặc biệt là công cụ sản xuất như: đục lưỡi rộng, rìu vai, dao hái,….và cả đồ gốm tại di chỉ Gò Me đã chứng tỏ cư dân cổ Gò Me cư trú liên tục trong một thời gian khá dài từ 3.000 năm đến 2.000 năm cách ngày nay.
Những di cốt được phát hiện ở vùng Rừng Sác - Cần Giờ (Giồng Cá Vồ, Giồng Cá Trăng, Giồng Phệt) và di cốt người cổ được phát hiện tại di chỉ Gò Me (xã Vĩnh Thanh, Nhơn Trạch) là những đại diện được xem là tại chỗ của cư dân thời kim khí trên vùng đất ngập mặn ven biển ở Đồng Nai nói riêng và phía ven biển Đông Nam bộ nói chung.
Những hiện vật thu thập được sau hai lần khai quật với đa dạng chủng loại như: hiện vật chất liệu kim loại, chất liệu đá, gốm, thủy tinh và hiện vật chất liệu xương là những chứng cứ quan trọng giúp các nhà khoa học nhận định di tích Gò Me có mối quan hệ với các di tích thuộc nhóm di tích vùng cận biển như: Giồng Cá Vồ, Giồng Phiệt (huyện Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh), Rạch Núi (Long An).
Trải qua 2 cuộc khai quật khảo cổ, những phát hiện mới tại di tích Gò Me đã từng bước làm rõ nét hơn diện mạo văn hóa xã hội của cư dân thời điểm đó. Dấu tích cư trú được ghi nhận rõ nét tại các hố khai quật, cho thấy các hoạt động sống hàng ngày của cộng đồng cư dân cổ. Mặc dù chưa thể phân định được vị trí chính xác của các kiến trúc nhà ở nhưng nó đã giúp cho các nhà nghiên cứu có những nhận định rõ nét ban đầu về nơi từng diễn ra các hoạt động sinh hoạt thường ngày của con người cổ xưa. Khi liên hệ với các di tích khác như Cái Vạn, Rạch Lá, Bưng Bạc... đã xác định rõ hơn mô hình cư trú nhà sàn là mô hình cư trú phổ biến của cư dân cổ Gò Me ở thời điểm bấy giờ.
Qua kết quả sàng lọc đất trong các tầng văn hóa cho thấy cư dân cổ Gò Me có nguồn thực phẩm phong phú với các loài cá, động vật trên cạn. Điều này chứng minh được phần nào về tính chất cư trú của di chỉ này, xưa kia địa điểm Gò Me thực sự là môi trường thuận lợi để sinh sống của lớp cư dân tại đây.
Bốn mộ táng được tìm thấy tại di tích được xem là phát hiện quan trọng, giúp ích trong việc tìm hiểu về đời sống tinh thần, tập quán xã hội trong sinh hoạt của cư dân cổ Gò Me.
Hạt chuỗi thủy tinh cho thấy những dấu vết về quan hệ giao lưu văn hóa - thương mại tại vùng đất này và Gò Me là điểm dừng quan trọng trong tuyến hải hành thời cổ trong hệ thống thương mại trên biển rất sôi động trong khoảng 500 năm trước Công Nguyên, trong đó chuỗi hạt thủy tinh chính là một trong những món hàng chủ yếu thời bấy giờ.
Việc phát hiện các di vật gốm có kỹ thuật chế tạo và loại hình mang những đặc trưng nhất định của văn hóa miền Đông Nam Bộ trong các giai đoạn sớm hư: Rạch Núi, Mỹ Lộc, Cù Lao Rùa,... đã thể hiện tính thẩm mỹ cũng như trình độ kỹ thuật cao của cư dân cổ Gò Me.
Di tích khảo cổ Gò Me với tính chất di chỉ cư trú, công xưởng làm gốm và mộ táng là nguồn sử liệu cung cấp cơ sở khoa học trong việc làm sáng tỏ hơn giá trị lịch sử, văn hóa của cư dân cổ trên vùng đất này.
Thông qua kết quả của các cuộc khai quật tại đây đã góp phần khẳng định sự tồn tại và phát triển của những cộng đồng cư dân cổ ở vùng ngập mặn ven biển Nhơn Trạch - Bà Rịa Vũng Tàu - Cần Giờ (Tp. Hồ Chí Minh) vào khoảng 3000 năm cách ngày nay. Những hiện vật thu thập được trong các hố khai quật đã cho thấy người cổ định cư lâu dài tại đây qua nhiều giai đoạn khác nhau. Việc phát hiện 4 mộ táng trong đợt khai quật năm 2004 sẽ là nguồn tư liệu quý báu để nghiên cứu về loại hình nhân chủng của chủ nhân vùng đất này.
Tiềm năng du lịch của các di tích khảo cổ ngày càng được xem trọng trong bối cảnh hiện nay. Gò Me là di tích khảo cổ mang tính chất di chỉ cư trú, công xưởng làm gốm và mộ táng của cư dân tại chỗ cổ xưa ở vùng đất này. Tại đây cũng đã phát hiện nhiều hiện vật quý như: chuỗi hạt, rìu đồng, lục lạc đồng,.. Chính vì thế, đây sẽ là nguồn hiện vật quý giá để thực hiện các bộ sưu tập trưng bày tại chỗ cũng như trên không gian ảo (số hóa hiện vật). Từ đó, góp phần quan trọng vào việc phát triển giá trị du lịch kinh tế địa phương, giúp khách tham quan di tích hiểu tường tận hơn về lịch sử văn hóa địa phương, dân tộc.
Hiện nay, thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di tích còn tồn tại một số hạn chế, cụ thể như sau:
- Di tích được phát hiện vào năm 2004, trải qua 2 đợt khai quật năm 2004 và 2019 đã xác định là di tích có tính chất quan trọng trong diễn trình lịch sử văn hóa Đồng Nai, nhưng cho đến nay vẫn chưa được công nhận xếp hạng di tích cấp tỉnh.
- Di tích nằm trong khu cư trú và canh tác trồng hoa màu, cây ăn trái nên không tránh khỏi việc bị xâm hại.
- Di tích chưa nằm trong quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá tại địa phương.
Bên cạnh những khó khăn thì công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích đến nay cũng đạt được những kết quả nhất định:
- Việc ban hành Quyết định số 2412/QĐ-UBND về việc “phê duyệt quy hoạch khảo cổ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2025, định hướng 2035” thể hiện tầm nhìn, sự quan tâm của chính quyền đối với sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích nói chung và di tích khảo cổ Gò Me nói riêng. Trên cơ sở quyết định này, năm 2019 Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Trung tâm Khảo cổ học (Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ) đã tiến hành khai quật di tích Gò Me lần 2. Thông qua tư liệu khảo cổ thu thập được đã góp phần xác định giá trị văn hóa - lịch sử và khoa học tại vùng đất này và là cơ sở để tiến hành lập hồ sơ xếp hạng di tích.
- Những hiện vật khảo cổ thuộc di tích hiện được lưu giữ trong kho của Bảo tàng Đồng Nai nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và trưng bày giới thiệu đến công chúng.
Di tích khảo cổ Gò Me là di tích khảo cổ quan trọng, có tính chất là di chỉ cư trú, công xưởng làm gốm và là mộ táng của những cư dân cổ cách đây khoảng 3.000 năm. Những hiện vật phát hiện được đóng vai trò là nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu về chủ nhân xa xưa tại di tích này. Vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích rất cần sự quan tâm đặc biệt từ các ban ngành và chính quyền địa phương. Cần thiết phải có những kế hoạch bảo tồn trước mắt và lâu dài cho di tích khảo cổ Gò Me dựa trên Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa năm 2009 của Quốc Hội ban hành; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa; Nghị định số 166/2018/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá và quảng cáo; Thông tư số 15/2019/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Cụ thể, các phương án bảo vệ và phát huy giá trị di tích như sau:
* Đề nghị UBND tỉnh:
Ra quyết định xếp hạng di tích khảo cổ học Gò Me là di tích cấp tỉnh giao cho UBND huyện Nhơn Trạch quản lý.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
Giám sát, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý, bảo vệ và khai thác di tích khảo cổ Gò Me; Hằng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch tổ chức tập huấn Luật Di sản Văn hóa, các văn bản pháp luật khác về bảo tồn, phát huy giá trị di tích cho các đối tượng quản lý di tích nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và tuyên truyền di tích này có hiệu quả.
- Giao cho Bảo tàng Đồng Nai:
+ Phối hợp với các đơn vị nghiên cứu khảo cổ triển khai mở rộng các đợt khai quật di tích Gò Me để tìm hiểu các dấu tích còn tiềm ẩn trong lòng đất nhằm phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích cũng như nghiên cứu giáo dục trong tương lai.
+ Bảo tàng Đồng Nai cần đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp để bảo tồn và phát huy giá trị di tích khảo cổ trên địa bàn tỉnh nói chung và di tích Gò Me nói riêng.
+ Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật về di tích theo thẩm quyền, giải quyết khiếu nại tố cáo theo quy định của pháp luật.
+ Xây dựng kế hoạch phối hợp với phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Nhơn Trạch và chính quyền địa phương tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử di tích địa phương cho học sinh các trường Phổ thông trung học, Trung học cơ sở,… để củng cố kiến thức lịch sử, mở rộng hiểu biết về văn hóa địa phương cũng như khơi dậy sự tìm tòi với lịch sử dân tộc.
+ Tham mưu cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng kế hoạch bảo vệ, bảo quản tu bổ, phát huy giá trị di tích.
+ Hướng dẫn, hỗ trợ Phòng Văn hóa Thông tin huyện Nhơn Trạch trong công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích.
+ Chủ động phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa Thông tin huyện Nhơn Trạch để xử lý hành vi xâm hại tới di tích. Thường xuyên đánh giá tác động ảnh hưởng lên di tích để có những biện pháp ngăn chặn kịp thời và hiệu quả.
+ Xây dựng kế hoạch quảng bá di tích qua các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá di sản và hình ảnh của các di tích khảo cổ như di tích Gò Me thông qua các website, các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Youtube,... Đồng thời, ứng dụng công nghệ thực tế ảo vào việc mô phỏng di tích để thu hút khách tham quan từ nhiều địa phương khác cho đến du khách quốc tế.
- Chỉ đạo Phòng Văn hóa Thông tin huyện Nhơn Trạch phối hợp với Bảo tàng tỉnh trong việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích khảo cổ Gò Me.
- Phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan chức năng chịu trách nhiệm chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích khảo cổ Gò Me theo thẩm quyền;
- Thường xuyên tổ chức các hình thức tuyên truyền, quảng bá di tích trên các phương tiện thông tin đại chúng; đặc biệt là hệ thống truyền thanh của huyện để mọi người dân đều biết, hiểu và cùng góp sức bảo quản, chăm sóc, giữ gìn di tích.
- Bảo vệ và phát huy giá trị di tích trong phạm vi địa phương; tổ chức ngăn chặn kịp thời và xử lý các hành vi xâm hại tới di tích theo quy định của Nhà nước.
- Phối hợp với Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Nhơn Trạch quản lý, phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm hại tới di tích, báo cáo với cơ quan quản lý cấp trên khi di tích có nguy cơ bị xâm hại, mất mát hoặc hủy hoại;
- Thường xuyên tổ chức các hình thức tuyên truyền, quảng bá di tích khảo cổ Gò Me trên các phương tiện thông tin đại chúng; đặc biệt là hệ thống truyền thanh của xã để mọi người dân đều biết, hiểu và cùng góp sức bảo quản, chăm sóc, giữ gìn di tích.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa trên, di tích khảo cổ học Gò Me đủ tiêu chí xếp hạng là di tích khảo cổ cấp tỉnh. Bảo tàng Đồng Nai kính đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai có văn bản trình Thường trực UBND tỉnh xem xét, ra Quyết định xếp hạng di tích Gò Me là di tích khảo cổ cấp tỉnh trong năm 2022 để có cơ sở pháp lý bảo tồn và phát huy giá trị di tích này trong hiện tại và tương lai.
Hôm nay
Tổng lượt truy cập